TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/5/2024
“V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Văn Nhân.
- Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị P - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phong Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2024, về: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 08/5/2024.
- Bị đơn: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 10/01/2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lệ H và anh Trần Văn H1 chung sống như vợ chồng từ năm 2015, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P ngày 31/3/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được khoảng 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay không quan tâm chăm sóc cho nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo liệu. Nay chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Lệ H trình bày vợ chồng có một người con chung là cháu Trần Phương U, sinh ngày 17/12/2015. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân cháu U ở với anh H1. Nay chị H yêu cầu giao cháu U cho anh H1 tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng kể từ khi Toà án giải quyết cho ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao trích lục khai sinh cháu Trần Phương U, bản sao căn cước công dân của chị Nguyễn Thị Lệ H; Thông báo số định danh cá nhân và thông tin cư trú của công dân.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Trần Văn H1 nhưng quá thời hạn luật định, anh H1 không có bản trình bày ý kiến, vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được.
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình anh Trần Văn H1 như sau: Chị H và anh H1 kết hôn năm 2016, cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Hai người sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Vợ chồng anh H1, chị H có 01 người con chung là cháu Trần Phương U hiện đang do anh H1 nuôi dưỡng. Gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt và đã thông báo đầy đủ cho anh H1 nhưng do bận công việc làm ăn nên anh H1 không đến Tòa án được, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 08/5/2024, anh H1 vắng mặt lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa đồng thời tống đạt quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập cho anh H1. Tại phiên toà lần thứ hai, anh H1 tiếp tục vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, nhiều lần vắng mặt tại phiên hòa giải, phiên tòa.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí xử buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên toà, nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn là anh Trần Văn H1, có địa chỉ cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phong Điền.
1.2. Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tổ tụng dân sự, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là hợp lệ. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 08/5/2024, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, đồng thời tống đạt quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập cho bị đơn. Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do; nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lệ H và anh Trần Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P ngày 31/3/2016, do đó quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Vợ chồng chung sống với nhau một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Hai người sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay không quan tâm chăm sóc cho nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo liệu. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần Thông báo về phiên hoà giải nhưng bị đơn đều vắng mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh H1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
[2.2] Về việc nuôi con chung:
Xét yêu cầu của chị H về việc giao người con chung là cháu Trần Phương U, sinh ngày 17/12/2015, cho anh H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng thấy rằng: Chị H và anh H1 đã sống ly thân 7 năm, trong thời gian này cháu U do anh H1 chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu U cũng có nguyện vọng được ở với anh H1. Do đó, để đảm bảo sự ổn định cuộc sống cho cháu U cần chấp nhận yêu cầu của chị H về việc giao cháu U cho anh H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình thì khi ly hôn cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Lệ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lệ H. Chị H được ly hôn anh Trần Văn H1.
- Về việc nuôi con chung:
Giao cháu Trần Phương U, sinh ngày 17/12/2015 cho anh Trần Văn H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Chị Nguyễn Thị Lệ H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng kể từ khi bản án có hiệu lực cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Chị Nguyễn Thị Lệ H có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Trần Văn H1 có đơn yêu cầu thi hành án mà chị Nguyễn Thị Lệ H không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ tiền cấp dưỡng nuôi con định kỳ thì phải chịu thêm lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Lệ H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ, tổng cộng là 600.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000808 ngày 17/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị H phải nộp thêm 300.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Anh Nga |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hôn nhân và gia đình Nguyễn Thị Lệ H - Trần Văn H
