|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Hội Thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
Ông Nguyễn Văn Kỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1992. HKTT: Thôn H, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Hiện đang trú tại: Đài Loan. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Vũ Đình H1, sinh năm 1989. HKTT: Thôn H, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Hiện đang trú tại: Đài Loan. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Chị và anh Vũ Đình H1 kết hôn với nhau vào ngày 11/05/2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn vợ chồng có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn không bị ép buộc hay lừa dối. Vợ chồng sau khi kết hôn sống hạnh phúc thời gian đầu. Nhưng đến nay, phát sinh mâu thuẫn, chủ yếu bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong công việc làm ăn, chị và anh H1 đã sống ly thân thời gian dài. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không
hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa. Vì vậy, chị đề nghị được ly hôn anh H1.
Con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Vũ Đình P, sinh ngày 04/02/2017 và cháu Vũ Thị Ngọc L, sinh ngày 30/4/2019. Hiện 02 cháu đều đang ở với ông bà nội, khi ly hôn chị H đồng ý để anh H1 nuôi 02 con chung, vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu giải quyết.
Tài sản chung, công nợ: Không.
Do công việc bận, nên chị H xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn anh Vũ Đình H1 đã được Tòa án thông báo, triệu tập nhiều lần thông qua người thân thích, nhưng anh H1 không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Vũ Đình C là bố đẻ anh H1, ông C trình bày: Ông là bố đẻ của Vũ Đình H1, sinh năm 1989. HKTT: Thôn H, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Theo ông được biết, năm 2015 con trai ông kết hôn với Phạm Thị H, sau đó vợ chồng H và H1 có 02 con chung là cháu Vũ Đình P, sinh ngày 04/02/2017 và cháu Vũ Thị Ngọc L, sinh ngày 30/4/2019, hiện 02 cháu đều do ông nuôi dưỡng, chăm sóc. Con trai ông là Vũ Đình H1 hiện lao động tại Đài Loan, H1 vẫn thường xuyên liên lạc, gọi điện cho ông qua điện thoại. Địa chỉ cụ thể của H1 ở Đài Loan thì ông không biết, ông có hỏi nhưng H1 không nói. Ông đã thông báo cho H1 biết việc cháu H xin ly hôn, thì quan điểm của H1 là đồng ý ly hôn và xin nuôi 02 con chung, không yêu cầu cháu H cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu H1 hiện rất bận nên không thể gửi giấy tờ, ý kiến về cho Tòa án và nhờ ông truyền đạt quan điểm trên.
Nay liên quan đến việc ly hôn giữa con trai ông và cháu H thì ông sẽ nhận thay cho H1 các văn bản tố tụng và ông cam kết sẽ giao lại những văn bản này cho H1 ngay trong ngày nhận được.
Trường hợp Tòa án giao con chung của H1 và cháu H cho H1 trực tiếp nuôi dưỡng, thì ông đồng ý nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi con chung của là cháu P và cháu L cho đến khi H1 về nước.
Tại phiên toà: Nguyên đơn chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của
chị Phạm Thị H, xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Đình H1. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Vũ Đình P, sinh ngày 04/02/2017 và cháu Vũ Thị Ngọc L, sinh ngày 30/4/2019 cho anh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ: không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, chị Phạm Thị H đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Vũ Đình H1 và đề nghị giao 02 con chung cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị H thì bị đơn là anh Vũ Đình H1 có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và hiện đang cư trú, làm việc tại Đài Loan. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn anh Vũ Đình H1 trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã làm việc, yêu cầu ông C là bố đẻ anh H1 cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của anh H1 nhưng đều không cung cấp mặc dù anh H1 thường xuyên liên lạc về cho ông C và gia đình, do đó anh H1 thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Đình H1 kết hôn ngày 11/05/2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, tại thời điểm kết hôn chị H và anh H1 đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, theo chị H trình bày vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn, chủ yếu bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong công việc làm ăn, vợ chồng chị đã sống ly thân thời gian dài. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng chị H, anh H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Đình H1.
[2.2]. Về con chung: Chị H trình bày, vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Vũ Đình P, sinh ngày 04/02/2017 và cháu Vũ Thị Ngọc L, sinh ngày 30/4/2019, cả 02 cháu đều đang ở với bố mẹ đẻ anh H1. Chị H hiện đang ở nước ngoài, có nguyện vọng giao 02 con chung cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; mặt khác hiện nay 02 con chung cũng đang ở với bố mẹ đẻ của anh H1, phía ông C là bố đẻ anh H1 cũng nhất trí nhận trách nhiệm chăm sóc cháu P và cháu L trong thời gian anh H1 đang ở nước ngoài, do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định của các cháu cần giao 02 con chung cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng chị H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị H: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Đình H1.
- Giao 02 con chung là cháu Vũ Đình P, sinh ngày 04/02/2017 và cháu Vũ Thị Ngọc L, sinh ngày 30/4/2019 cho anh Vũ Đình H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Phạm Thị H được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Vấn đề cấp dưỡng: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000113 ngày 21/02/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
5
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh H1
