|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS - ST
Ngày 18 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Mai
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Hoàng Văn Khảm
Bà Bùi Thị Kim Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Đại Hồng Minh, sinh ngày 26 tháng 02 năm 1982 tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: T3, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đại Xuân N (đã chết) và bà Cao Thị T; có vợ là Nguyễn Thị L và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03 ngày 25/01/2020 của Công an thị trấn Y xử phạt Đại Hồng M 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. M đã chấp hành nộp phạt ngày 06/3/2020, đến nay đã được xoá tiền sự. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2024 đến ngày 22/01/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại nơi cư trú “có mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ quan:
+ Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1990; địa chỉ: TDP B T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc “có đơn xin vắng mặt”.
+ Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983; địa chỉ: TDP B T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc “có đơn xin vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17/01/2024, Đại Hồng M, sinh năm 1982 tại T3, thị trấn Y, huyện Y bày bàn ghế ngồi tại phòng bếp nhà M để đánh bạc bằng hình thức ghi, bán số lô, số đề cho khách có nhu cầu. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, có 01 nam thanh niên tự khai tên là Phạm Minh Q, sinh năm 1992 trú tại thôn P, xã T, huyện T đến hỏi mua số lô, số đề của M thì M đồng ý bán số lô, số đề cho Q. Cụ thể: Phạm Minh Q mua số lô 37 là 200 điểm với giá 22.000 đồng/1 điểm lô, tổng 200 điểm x 22.000 đồng = 4.400.000 đồng, số đề 37 là 100.000 đồng thì Đại Hồng M đồng ý bán. Tổng là 4.500.000 đồng nhưng M khuyến mại cho Q 20.000 đồng tiền số đề thành 120.000 đồng (nghĩa là ghi cho Q mua số đề 37 bằng 120.000 đồng nhưng Đại Hồng M chỉ tính tiền là 100.000 đồng). Quyết thanh toán đủ tiền mua số lô, số đề cho Đại Hồng M là 4.500.000 đồng, Đại Hồng M cất tiền vào túi áo rồi ghi các số lô, số đề Q mua vào 01 mảnh giấy được cắt ra từ 01 tờ lịch ghi: "17/1 37x200 37(120)” tức là ngày 17/01/2024, Đại Hồng M ghi cho anh Q 200 điểm lô 37 và 120.000 đồng tiền đề 37 rồi đưa cho Q giữ tờ giấy này. Tổng số tiền Đại Hồng M bán số lô, số đề trái phép cho Q là 4.520.000 đồng. Sau đó, Đại Hồng M ghi vào 01 tờ giấy dòng kẻ ngang của Đại Hồng M là “37 x 200”, “37 (120)” tức là Đại Hồng M bán số lô 37 bằng 200 điểm, số đề 37 bằng 120.000 đồng cho Q để theo dõi, tính thắng thua. Khi Đại Hồng M đang bán số lô, số đề trái phép cho Q thì bị Công an huyện Y phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ số tiền 4.500.000 đồng Q trả cho Đại Hồng M và số tiền 1.300.000 đồng của Đại Hồng M, tổng cộng là 5.800.000 đồng; Thu giữ trên người Phạm Minh Q 01 mảnh giấy được cắt ra từ 01 tờ lịch ghi: "17/1 37x200 37(120)". Thu giữ trên bàn tại vị trí Đại Hồng M ngồi 01 tờ giấy dòng kẻ có ghi các kí tự chữ và số có chữ ký xác nhận của Đại Hồng M và số tiền 952.000 đồng. Thu giữ 01 bàn học có khung bằng kim loại, mặt bàn bằng gỗ ép màu xanh nhãn hiệu Xuân Hòa; 01 ghế khung bằng kim loại màu xanh lá cây đều đã cũ, qua sử dụng và 02 bút bi màu xanh, đã cũ qua sử dụng là công cụ để M thực hiện hành vi đánh bạc.
Quá trình điều tra, Đại Hồng M khai nhận: ngoài hành vi đánh bạc với Phạm Minh Q như trên thì vào ngày 17/01/2024, Đại Hồng M còn thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại với Phạm Văn T1, sinh năm 1990 trú tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
Cụ thể: Vào hồi 17 giờ 28 phút ngày 17/01/2024, T1 sử dụng số điện thoại 0353.999.xxx (được lưu trong danh bạ điện thoại của Đại Hồng M tên là T4) nhắn tin đến số điện thoại 0344.680.xxx, lắp trong chiếc điện thoại Nokia, màu đen của Đại Hồng M với nội dung: “Lô xiên quay bốn 33.88.38.83mc5d 38.83.65.62mc5d lô 65=50d” tức là Thùy mua của Đại Hồng M 02 bộ lô xiên quay 4 là 33.88.38.83 và 38.83.65.62, mỗi bộ là 11 cặp số lô, tổng là 22 cặp số lô gồm lô xiên 2, xiên 3, xiên 4; mỗi cặp lô xiên bằng 05 điểm với giá lô xiên là 10.000 đồng nên 05 điểm bằng 50.000 đồng và số lô 65 bằng 50 điểm. Hồi 17 giờ 30 phút cùng ngày, Đại Hồng M nhắn tin lại cho T1 là “Ok” tức là đồng ý bán cho T1 các số lô xiên 4 và số lô trên. Đại Hồng M bán cho T1 01 điểm lô bằng 22.000 đồng, số tiền T1 mua các số lô trên của Đại Hồng M là 50 điểm x 22.000 đồng = 1.100.000 đồng và 22 x 50.000 đồng = 1.100.000 đồng. Tổng số tiền mua số lô, số đề T1 phải thanh toán cho M là 2.200.000 đồng. Tuy nhiên, Đại Hồng M khuyến mại cho T1 440.000 đồng tiền lô xiên quay 4 nên số tiền là lô xiên quay 4 Thùy phải trả cho M là 660.000 đồng. Tổng số tiền T1 phải thanh toán cho Đại Hồng M để mua các số lô xiên quay và số lô của Đại Hồng M sau khi đã khuyến mại là 1.100.000 đồng + 660.000 đồng = 1.760.000 đồng. Thùy đã chuyển khoản đủ cho M số tiền trên.
Hồi 17 giờ 35 phút cùng ngày, T1 tiếp tục nhắn tin cho Đại Hồng M với nội dung “Đề 89.98mc 100k” tức là Thùy mua của Đại Hồng Minh các số đề 89, 98 mỗi số bằng 100.000 đồng, tổng là 200.000 đồng. Đại Hồng M khuyến mại cho T1 50.000 đồng nên T1 chỉ phải trả cho Đại Hồng M 150.000 đồng để mua 02 số đề trên, mỗi số là 75.000 đồng. Hồi 17 giờ 48 phút cùng ngày, T1 tiếp tục nhắn tin cho Đại Hồng M với nội dung "Em chuyển tiền rồi đấy” nghĩa là T1 đã trả tiền mua số lô, số đề trên cho Đại Hồng M. Tổng số tiền T1 phải trả để mua số lô, số đề của Đại Hồng M là 1.760.000 đồng + 150.000 đồng = 1.910.000 đồng. Sau đó, Đại Hồng M mở chiếc điện thoại Oppo A15, màu trắng, có màn hình cảm ứng của Đại Hồng M và truy cập ứng dụng V trong điện thoại này để kiểm tra biến động số dư trong tài khoản Ngân hàng V số: [...] thì thấy hồi 17 giờ 43 phút cùng ngày T1 đã chuyển khoản số tiền 1.760.000 đồng, tiếp đó hồi 17 giờ 46 phút cùng ngày T1 đã chuyển khoản số tiền 150.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng trên của Đại Hồng M. Sau khi kiểm tra tài khoản Ngân hàng xác định T1 đã chuyển khoản đủ số tiền mua các số lô số đề trên thì vào hồi 17 giờ 49 phút cùng ngày Đại Hồng M nhắn tin lại cho T1 với nội dung “Ok” tức là Minh xác n đã nhận được tiền và nhận bán các số lô, số đề trên cho T1. Số tiền M đánh bạc với Thùy ngày 17/01/2024 là 2.200.000 đ + 200.000 đồng = 2.400.000 đồng
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của Đại Hồng M bán số lô, số đề cho Phạm Minh Q và Phạm Văn T1 trong ngày 17/01/2024 là 4.520.000 đồng + 2.400.000 đồng = 6.920.000 đồng.
Cùng ngày, Đại Hồng M giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, có bàn phím, số seri 1: 356974090534344, seri 2: 356974095534349, bên trong lắp số sim thuê bao: 0344.680.312, trên sim có in hàng số: 8984048000074843605, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng, số imei 1: 869868050898931, imei 2: 869868050898923, bên trong lắp số sim thuê bao 0352.012.384, trên sim có in hàng số: 8984048000313017818, đã qua sử dụng.
Phạm Văn T1 giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 pro max, màu xanh, dung lượng 64 GB, số imei: 352849110083825, bên trong sim số thuê bao 0353.999.263, trên sim có in hàng số: 89844048000032170541, đã qua sử dụng.
Đến ngày 05/5/2024, Đại Hồng M tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 2.420.000 đồng, trong đó có 2.400.000 đồng là tiền M đánh bạc với Phạm Văn T1 và 20.000 đồng tiền M khuyến mại cho Phạm Minh Q.
Về hình thức đánh bạc bằng việc bán số lô, số đề căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày 17/01/2024 với tỷ lệ thắng thua như sau:
- - Số lô là 02 con số, số lô được coi là trúng khi 02 con số này trùng khớp với 02 con số cuối cùng của các tất cả các dãy số trúng giải trong kết quả xổ số. Nếu trúng 01 điểm lô thì được số tiền 80.000 đồng, nếu trượt thì mất số tiền đã mua số lô đó. Nếu trúng nhiều lần thì sẽ được trả thưởng bằng số lần trúng thưởng tương ứng (tối đa là 03 lần).
- - Bộ số lô xiên 2 là bộ 02 số lô khác nhau. Bộ số lô xiên 2 được coi là trúng khi 02 số lô này trùng khớp với 02 con số cuối cùng của 02 dãy số trúng giải trong kết quả xổ số. Nếu trúng 1000 đồng tiền mua số lô được số tiền 10.000 đồng (gấp 10 lần), nếu trượt thì mất số tiền đã mua số lô xiên đó. Trường hợp mua số lô xiên 2 bằng điểm mà trúng thưởng thì quy điểm ra tiền, 01 điểm lô xiên = 10.000 đồng, sau đó nhân với 10 để tính thắng thua.
- - Bộ số lô xiên 3 là bộ 03 số lô khác nhau. Bộ số lô xiên 3 được coi là trúng khi 03 số lô này trùng khớp với 02 con số cuối cùng của 03 dãy số trúng giải trong kết quả xổ số. Nếu trúng 1000 đồng tiền mua số lô được số tiền 40.000 đồng (gấp 40 lần), nếu trượt thì mất số tiền đã mua số lô xiên đó. Trường hợp mua số lô xiên 3 bằng điểm mà trúng thưởng thì quy điểm ra tiền, 01 điểm lô xiên = 10.000 đồng, sau đó nhân với 40 để tính thắng thua.
- - Bộ số lô xiên 4 là bộ 04 số lô khác nhau. Bộ số lô xiên 4 được coi là trúng khi 04 số lô này trùng khớp với 02 con số cuối cùng của 04 dãy số trúng giải trong kết quả xổ số. Nếu trúng 1000 đồng tiền mua số lô được số tiền 100.000 đồng (gấp 100 lần), nếu trượt thì mất số tiền đã mua số lô xiên đó. Trường hợp mua số lô xiên 4 bằng điểm mà trúng thưởng thì quy điểm ra tiền, 01 điểm = 10.000 đồng, sau đó nhân với 100 để tính thắng thua.
- - Số đề là 02 con số, số đề được coi là trúng khi 02 con số này trùng khớp với 02 con số cuối cùng của giải đặc biệt trong kết quả xổ số. Nếu trúng 1000 đồng tiền đề được số tiền 70.000 đồng (gấp 70 lần), nếu trượt thì mất số tiền đã mua số đề đó.
Về kết quả trưng cầu giám định: Ngày 02/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 198/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện từ đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen đã cũ qua sử dụng của Đại Hồng M và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 pro max, màu xanh, dung lượng 64 GB, đã cũ qua sử dụng của Phạm Văn T1.
Ngày 25/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y nhận được Kết luận giám định số: 1042/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:
- Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, có số IMEI1: 352849110083825, số IMEI2: 352849110034190: Có 05 (năm) tin nhắn liên lạc với số điện thoại 0344.680.xxx. Thẻ sim kèm theo: Không phát hiện có dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định.
- Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, có số sêril: 356974090534344, sêri2: 356974095534349; Chụp được 02 (hai) ảnh màn hình hiển thị tin nhắn liên lạc với số điện thoại 0353.999.xxx (được lưu trong danh bạ điện thoại là “ThuyX"). Thẻ kèm theo sim: Không phát hiện có dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định.
Toàn bộ dữ liệu trích xuất được in vào 01 (một) phụ lục. Kèm theo Kết luận giám định: 01 (một) phụ lục có chữ ký của Giám định viên và dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh V.
Tại Cáo trạng số 48/CT - VKSBX ngày 07 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố Đại Hồng M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, tính chất nghiêm trọng của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đại Hồng M từ 10 (Mười) đến 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, đề nghị phạt bị cáo Đại Hồng M từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đại Hồng M trình bày: Bị cáo đã thừa nhận về hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc đã truy tố, bị cáo đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra chị trình bày: Bị cáo M là chồng của chị. Chị có đăng ký hợp đồng đại lý bán vé xổ số kiến thiết Miền Bắc, hàng ngày chị đều bán vé số cho khách có nhu cầu, thỉnh thoảng M có giúp chị bán xổ số miền B khi chị bận việc hoặc khi sức khoẻ yếu. Buổi chiều ngày 17/01/2024, do chị bị đau đầu, mệt mỏi nên không trực tiếp bán vé xổ số mà nhờ M bán giúp còn chị đi lên nhà trên để nghỉ ngơi, một mình M kê bàn tại gian bếp nhà M để bán xổ số cho khách có nhu cầu. Việc M bán số lô, số đề cho Q và Thuỳ ngày 17/01/2024 thì chị hoàn toàn không biết và không có thoả thuận gì với M. Mặc dù số tài khoản Ngân hàng V số [...] là của chị đăng ký nhưng chị không sử dụng số tài khoản này mà cho M sử dụng từ trước đó. Việc M sử dụng 02 chiếc điện thoại gồm 01 điện thoại Nokia màu đen đã cũ và 01 điện thoại di động OPPO A15 màu trắng sử dụng để đánh bạc chị không biết. Do M là người trực tiếp sử dụng hai chiếc điện thoại này, vì vậy chị không biết việc M sử dụng tài khoản Ngân hàng của chị để thực hiện hành vi đánh bạc. Chị không giúp sức cho M đánh bạc, không được hưởng lợi ích gì từ việc đánh bạc của M. Buổi chiều ngày 17/01/2024, chỉ đến khi Cơ quan Công an đến bắt Đại Hồng M về hành vi đánh bạc thì chị mới biết việc M tham gia đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề cho khách.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Phạm Văn T1 tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra anh trình bày và xác nhận lời khai của bị cáo là đúng. Ngày 17/01/2024, T1 có hành vi đánh bạc với Đại Hồng M với tổng số tiền đánh bạc là 2.400.000 đồng, bản thân Thùy không có tiền án, tiền sự gì về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
- Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đại Hồng M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Bị cáo khai: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, tại nhà ở của Đại Hồng M ở TDP B T, thị trấn Y, huyện Y, Đại Hồng M đang thực hiện hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức ghi số lô, số đề cho Phạm Minh Q với số tiền là 4.520.000 đồng thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện bắt giữ, lập biên bản sự việc, thu giữ các vật chứng có liên quan và số tiền 2.252.000 đồng của M sử dụng để trả lại tiền thừa cho khách mua số lô số đề. Quá trình điều tra mở rộng, Đại Hồng M khai nhận cùng ngày có đánh bạc với Phạm Văn T1 bằng hình thức ghi số lô với tổng số tiền là 2.400.000 đồng bằng việc nhắn tin điện thoại và chuyển khoản. Tổng số tiền M đánh bạc với Q và T1 là 9.172.000 đồng.
- Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận Đại Hồng M đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua thắng bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
- Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trị an tại địa phương, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, từ tội đánh bạc có thể nảy sinh ra nhiều tội phạm khác như trộm cắp tài sản, cướp tài sản ... Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện nộp lại tiền thu lời bất chính, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và bị cáo có bố là ông Đại Xuân N được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình tại ngoại bị cáo chấp hành đầy đủ, nghiêm túc các quy định của pháp luật và địa phương. Bị cáo có chỗ ở ổn định và nơi cư trú rõ ràng. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe, phòng ngừa chung và tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo có việc làm, có thu nhập, bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc với mục đích được thua bằng tiền và thu lời bất chính. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp. Do vậy, ngoài hình phạt chính cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:
Đối với 01 tờ cáp lô đề và 01 tờ giấy dòng kẻ ngang có ghi các số lô, số đề M bán cho Q và T1 cần lưu theo hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền 9.172.000 đồng thu giữ của Đại Hồng M và do M giao nộp gồm: 4.500.000 đồng Minh đánh bạc với Phạm Minh Q, 2.400.000 đồng tiền M đánh bạc với Phạm Văn T1, số tiền 2.252.000 đồng của M sử dụng để trả lại tiền thừa cho khách mua số lô số đề, số tiền 20.000 đồng tiền M khuyến mại cho Q khi mua số đề ngày 17/01/2024 cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen đã cũ, 01 điện thoại di động OPPO A15 màu trắng của Đại Hồng M và 01 điện thoại IPhone 11 đã cũ của Phạm Văn T1 là phương tiện dùng để đánh bạc nên cần tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 bàn học có khung bằng kim loại, mặt bàn bằng gỗ ép màu xanh nhãn hiệu Xuân Hòa; 01 ghế khung bằng kim loại màu xanh lá cây và 02 bút bi màu xanh đều đã cũ, qua sử dụng là công cụ để M thực hiện hành vi đánh bạc cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với nam thanh niên tự khai tên Phạm Minh Q, sinh năm 1992 khai nhận có hộ khẩu thường trú tại: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại xã T, huyện T. Kết quả xác định trên địa bàn xã T, huyện T không có công dân tên là Phạm Minh Q, sinh năm 1992 có thông tin như Q tự khai. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý, khi nào xác định được đối tượng sẽ đề xuất xử lý sau.
Đối với Phạm Văn T1 có hành vi đánh bạc với Đại Hồng M với tổng số tiền đánh bạc là 2.400.000 đồng, bản thân Thùy không có tiền án, tiền sự gì về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc nên hành vi đánh bạc nêu trên của T1 không cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. (Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1342 ngày 8/4/2020, Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 về hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ; ngày 10/4/2020 T1 đã chấp hành nộp phạt số tiền 5.000.000 đồng, đến nay đã được xóa tiền sự). Ngày 07/5/2024, Công an huyện Y đã lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 89 ngày 07/5/2024 đối với Phạm Văn T1 về hành vi mua các số lô theo quy định tại khoản 1 điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, bằng hình thức phạt tiền với mức tiền phạt là 350.000 đồng. Ngày 10/5/2024, Phạm Văn T1 đã chấp hành nộp phạt số tiền trên.
Đối với Nguyễn Thị L: Quá trình điều tra xác định việc M bán số lô, số đề cho Q và Thuỳ ngày 17/01/2024, Liên hoàn t không biết và không có thoả thuận gì với M. Mặc dù số tài khoản Ngân hàng V số [...] là của Nguyễn Thị L đăng ký nhưng L không sử dụng số tài khoản này mà cho M sử dụng từ trước đó. Vì L không biết việc M sử dụng tài khoản Ngân hàng của mình để thực hiện hành vi đánh bạc, L không giúp sức cho M đánh bạc, không được hưởng lợi ích gì từ việc đánh bạc của M. Chỉ đến khi Cơ quan Công an đến bắt Đại Hồng M về hành vi đánh bạc thì L mới biết việc M tham gia đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề cho khách. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y không xem xét xử lý đối với L.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đại Hồng M phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Bị cáo Đại Hồng M 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 08 (T2) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đại Hồng M cho Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo M 10.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 9.172.000 đồng;
Tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Nokia màu đen đã cũ, 01 điện thoại di động OPPO A15 màu trắng của Đại Hồng M và 01 điện thoại IPhone 11 đã cũ của Phạm Văn T1.
Tịch thu tiêu huỷ 01 bàn có khung bằng kim loại, mặt bàn bằng gỗ ép màu xanh nhãn hiệu Xuân Hòa; 01 ghế khung bằng kim loại màu xanh lá cây và 02 bút bi màu xanh đều đã cũ, qua sử dụng.
(Vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc lập ngày 10 tháng 7 năm 2024).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đại Hồng M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án đối với phần nội dung Bản án có liên quan đến quyền và lợi ích của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thanh Mai |
Bản án số 47/2024/HS - ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 47/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đại Hồng Minh
