TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày: 17-09-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Lọt; ông Bùi Văn Thiệu.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Phúc- Kiểm sát viên sơ cấp thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 17/09/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 08 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo
Bùi Văn D, sinh năm 1997 tại xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nơi KNKTT: xóm Đ, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Chỗ ở hiện tại: phố M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn) 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N, sinh năm 1974 bà bà Bùi Thị L, sinh năm 1973. Vợ là Bùi Thị H, sinh năm 2001 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến ngày 30/7/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn D là bà Nguyễn Thị Thu T- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. (Có mặt);
- Bị hại: Quách Văn H1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: phố L, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Có mặt);
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bùi Văn L1, sinh năm 1979. Nơi cư trú: phố M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt);
- + Bùi Thị P, sinh năm 1962. Nơi cư trú: phố M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt);
- + Bùi Thị T1, sinh năm 1956. Nơi cư trú: phố L, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Có mặt);
- + Bùi Văn N, sinh năm 1974. Nơi cư trú: xóm Đ, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt);
- Người làm chứng:
- + Bùi Văn K, sinh năm 2003. (Vắng mặt);
- + Quách Văn H2, sinh năm 1989. (Có mặt);
- + Bùi Trọng T2, sinh năm 1988. (Vắng mặt);
- + Bùi Thị H, sinh năm 2001. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 05/02/2024, Bùi Văn D, sinh năm 1997, trú tại xóm Đ, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (hiện đang tạm trú tại gia đình nhà vợ ở phố M, thị trấn V), Quách Văn H1, sinh năm 1986, trú tại phố L, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình và Bùi Văn L1, sinh năm 1979, trú tại phố M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (là bố vợ của D) ngồi ăn cơm, uống rượu tại gia đình Bùi Trọng T2, sinh năm 1988 thuộc xóm B, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Sau khi ăn uống xong, khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, D rủ T2 đi xuống quán ốc của gia đình D tại khu đô thị P, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình để uống rượu ốc. Khi D và T2 đang uống rượu thì H1 đến cùng ngồi uống. Quá trình ngồi uống rượu, giữa D và H1 có xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại, H1 dùng chén uống rượu (bằng nhựa) ném vào mặt của D, đồng thời lật đổ bàn nhựa mà H1 và D đang ngồi, rồi hai bên xông vào đánh nhau bằng tay chân. H1 bỏ chạy, còn D đuổi theo H1 được khoảng 15 mét thì dừng lại không đuổi nữa và nhờ T2 dắt xe máy ra cho H1 về. Sau khi rời khỏi quán ốc, H1 bực tức vì bị D đánh nên đã đi đến nhà bà Bùi Thị P, sinh năm 1962, trú tại phố M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình lấy 01 (một) con dao (dạng thanh kiếm) dài 72cm, chuôi dao màu vàng, có bọc chuôi kim loại màu sáng bạc dài 17cm, lưỡi dao màu sáng bạc dài 55cm, bề rộng lưỡi dao kích thước 3,2cm, đựng trong một bao dao bằng gỗ màu vàng rồi đi tìm D để đánh. Khoảng 15 phút sau, H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28FZ – 088.31 của bà Bùi Thị T1, sinh năm 1956, trú tại phố L, thị trấn V, huyện L (mẹ đẻ của H1) cầm theo con dao lấy được của gia đình bà P quay lại tìm D để đánh. H1 điều khiển xe mô tô đi thẳng vào nhà Bùi Văn L1 (bố vợ D) cách quán ốc của D khoảng 50m, H1 dừng đỗ xe ở cổng, miệng nói “Tao chém chết mày” và cầm dao đi vào khu vực sân. Ông L1 đang ngồi chẻ lạt ở hiên nhà do sợ bị đánh nên bỏ chạy vào khu vực vườn của gia đình. H1 cầm dao (kiếm) đi vào trong sân nhà ông L1 nhưng không thấy D đâu nên đã bực tức dùng chân đạp đổ chiếc xe mô tô và chiếc quạt cây xuống đất, rồi dùng dao (kiếm) chém vỡ gương treo tường của gia đình ông L1. D đang ở dưới quán ốc nghe thấy tiếng đập phá tài sản trên nhà bố vợ nên đã chạy lên nhà ông L1, quá trình chạy từ quán lên D đã lấy 01 (một) đoạn gậy bằng cọc tre dài khoảng 50cm ở bờ rào cầm theo chạy vào trong sân nhà ông L1 để đánh nhau với H1. Vào đến sân nhà ông L1, D nhìn thấy H1 đang cầm dao (kiếm) đứng ở trong sân gần vị trí có gương treo tường và nhìn thấy có 01 (một) xe mô tô và 01 (một) quạt cây nằm đổ xuống đất cách vị trí D đứng khoảng 10 mét. Thấy D đến, H1 cầm dao (kiếm) vung vẩy quay người về phía D đang đứng, sợ bị đánh nên D liền vứt gậy xuống đất, đồng thời cầm 01 (một) ghế xếp bằng gỗ, dạng ghế gập có tựa lưng, kích thước (64x34x32)cm, phần đế ngồi có kích thước (25x34)cm ở bàn uống nước trong sân nhà ông L1 cách vị trí H1 đang đứng 4,90m (bốn phẩy chín mươi mét), D đứng ở tư thế đối diện cầm ghế bằng hai tay ném thẳng về phía Quách Văn H1 trúng vào vùng đầu, mặt của H1 gây thương tích rồi bỏ chạy khỏi hiện trường. Hậu quả: Quách Văn H1 bị thương được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Trung tâm y tế huyện L và Bệnh viện đa khoa tỉnh H. (BL 224-263; 286-293; 548-550).
Ngay sau khi bị đánh gây thương tích gia đình bị hại đã có đơn yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. (BL 02).
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 62/KLTTCT-TTPY, ngày 15/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H, kết luận đối với Quách Văn H1:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Vết sẹo vùng mặt; Đứt nhánh thần kinh trán phải.
- Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Quách Văn H1 tại thời điểm giám định là 15% (mười lăm phần trăm). Đặc điểm vật gây thương tích: Vật tày. (BL 116-117).
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 307/KL-HĐĐGTS ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 (một) tấm gương màu trắng bạc được bọc viền nhôm màu vàng, có kích thước S = 2,20m x 1,50m, vùng gương vỡ có kích thước S = 0,80m x 0,64m, đã qua sử dụng có giá trị là 1.000.000đ (Một triệu đồng); 01 (Một) chiếc quạt cây màu đen cao 1,22m đã bị bẹp méo vùng lồng quạt (đã qua sử dụng) có giá trị là 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng). (BL 160-161).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bùi Văn D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác.
Cáo trạng số: 46/CT-VKS ngày 12/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn đã quyết định truy tố Bùi Văn D về tội: "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Đối với hành vi Quách Văn H1, vào ngày 05/02/2024 đã dùng chân đạp đổ làm hư hỏng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28F5-0433 và 01 (một) chiếc quạt cây; Dùng dao chém làm vỡ 01 (một) tấm gương tường thuộc quyền sở hữu ông Bùi Văn L1 gây thiệt hại 1.350.000đ. Ngày 20/7/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 04/QĐ-XPHC, xử phạt Quách Văn H1 số tiền 5.000.000đ về hành vi: Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân theo điểm a, khoản 2, Điều 15- Nghị định 114/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.
Đối với hành vi Quách Văn H1 dùng chân đạp đổ làm hư hỏng xe mô tô biển kiểm soát 28F5-0433 vào ngày 05/02/2024 tại khu vực sân nhà ông Bùi Văn L1. Sau khi sự việc xảy ra chủ sở hữu hợp pháp là ông Bùi Văn L1 đã tự ý sửa chữa để sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không có căn cứ để xử lý hành vi của Quách Văn H1 nên để nghị HĐXX không xem xét.
Về vật chứng:
- + 01 (một) con dao tổng chiều dài 72cm, chuôi dao màu vàng có bọc khâu kim loại màu sáng bạc dài 17cm, lưỡi dao có màu sáng bạc dài 55cm, bề rộng lưỡi dao có kích thước 3,2cm, đựng trong một bao dao bằng gỗ màu vàng có buộc dây dù màu đen có kích thước dài 63cm; dao cũ đã qua sử dụng thuộc quyền sử dụng của bà Bùi Thị P;
- + 01 (một) ghế xếp bằng gỗ, dạng ghế gập có phần tựa lưng, kích thước (64x34x32)cm, phần đế ngồi có kích thước (25x34)cm, tại thanh ngoài cùng của đế ngồi bị bung mối bắt rời ra ngoài; ghế cũ đã qua sử dụng, thuộc quyền sử dụng của ông Bùi Văn L1;
Những vật chứng trên đang quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn do chủ sở hữu không có yêu cầu gì nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ theo qui định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HDCUP, số loại 81, màu đỏ trắng, gắn biển kiểm soát 28FZ-088.31, xe cũ đã qua sử dụng thuộc quyền sử dụng của bà Bùi Thị T1 hiện đang quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn đề nghị trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo qui định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.
- + Đối với: 01 (một) tấm gương màu trắng bạc được bọc viền nhôm màu vàng, gương cũ đã qua sử dụng, kích thước (2,2x1,5)m, vùng gương vỡ có kích thước (0,8x0,64)m; 01 (một) chiếc quạt cây màu đen cao 1,22m, quạt cũ đã qua sử dụng bị bẹp méo vùng lồng quạt xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình ông Bùi Văn L1. Xét thấy việc trả lại tài sản trên không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu quản lý, bảo quản. (BL 193, 195; 196-201). Việc xử lý vật chứng nếu trên là phù hợp Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự đề nghị HĐXX chấp nhận và không xem xét trong vụ án.
- + Đối với 01 (một) đoạn gậy (cọc rào bằng tre) dài khoảng 50cm mà Bùi Văn D dùng để làm hung khí chuẩn bị đánh nhau với Quách Văn H1 vứt tại hiện trường. Ngày 16/02/2024 Công an thị trấn V đã tiến hành truy tìm vật chứng có đặc điểm như trên nhưng chưa thu được nên đề nghị HĐXX không xem xét trong vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
- + Quách Văn H1 bị thương phải đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện L và Bệnh viện đa khoa tỉnh H từ ngày 05/02/2024 đến ngày 07/02/2024. Quách Văn H1 đề nghị bị cáo Bùi Văn D bồi thường các khoản chi phí trong quá trình điều trị, thu nhập thực tế bị mất và tổn thất về tinh thần với tổng số tiền là 71.670.927đ (Bảy mươi mốt triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn, chín trăm hai mươi bảy đồng), trong đó số tiền có hóa đơn là 11.795.927đ (Mười một triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn, chín trăm hai mươi bảy đồng). Hiện tại bị cáo Bùi Văn D đã bồi thường cho bị hại được số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng). Bị hại không có yêu cầu đề nghị gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo Bùi Văn D (BL 61-112; 267-275) đề nghị HĐXX chấp nhận và không xem xét.
- + Đối với những thiệt hại về tài sản của gia đình ông Bùi Văn L1 mà Quách Văn H1 làm hư hỏng gồm: 01 (một) tấm gương màu trắng bạc được bọc viền nhôm màu vàng, gương cũ đã qua sử dụng, kích thước (2,2x1,5)m, vùng gương vỡ có kích thước (0,8x0,64)m; 01 (một) chiếc quạt cây màu đen cao 1,22m, quạt cũ đã qua sử dụng bị bẹp méo vùng lồng quạt với tổng số tiền là 1.350.000đ (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Giữa ông L1 và H1 đã thoả thuận bồi thường xong không có yêu cầu gì khác. Riêng đối với thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 28F5-0433, ông L1 tự sửa chữa và không có yêu cầu, đề nghị gì nên đề nghị HĐXX chấp nhận và không xem xét trong bản án.
Quan điểm của Người bào chữa cho bị cáo: thống nhất về tội danh và căn cứ áp dụng pháp luật như Kiểm sát viên đề nghị. Với luận cứ cho rằng: xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc Mường, trình độ văn hoà thấp, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế; bị cáo và gia đình bị cáo đã có trách nhiệm bồi thường toàn bộ cho bị hại; hành vi của bị cáo xuất phát từ phần lớn lỗi của bị hại và bị hại có có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Từ những căn cứ và phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là đã thể hiện được tính răn đe, sự nghiêm minh của pháp luật đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục lao động, sinh hoạt với gia đình. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không có lời bào chữa, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo Bùi Văn D tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; những người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 05/02/2024 tại phố M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, do mâu thuẫn bột phát và bực tức về việc Quách Văn H1 có hành vi đập phá làm hư hỏng tài sản của gia đình ông Bùi Văn L1 (bố vợ D) nên Bùi Văn D đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là 01 (một) ghế xếp bằng gỗ ném về phía Quách Văn H1 trúng vào vùng mặt, đầu của H1 gây thương tích. Hậu quả: Quách Văn H1 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15% (Mười lăm phần trăm). Hành vi của Bùi Văn D đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe mà còn gây tổn hại về tinh thần cho bị hại, gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương và thể hiện sự xem thường pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt sau này và sống có ích cho xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã có trách nhiệm bồi thường toàn bộ cho bị hại; bị cáo là người dân tộc thiểu số chưa am hiểu về pháp luật; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; hành vi của bị cáo xuất phát từ lỗi của bị hại; bị hại có có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét cho bị cáo.
[5] Về hình phạt: Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của xã hội cho hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cần cho bị cáo được hưởng án treo giao về cho gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục cũng đủ răn đe và tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, sửa đổi thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa phù hợp Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi Quách Văn H1, vào ngày 05/02/2024 đã dùng chân đạp đổ làm hư hỏng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28F5-0433 và 01 (một) chiếc quạt cây; Dùng dao chém làm vỡ 01 (một) tấm gương tường thuộc quyền sở hữu ông Bùi Văn L1 gây thiệt hại 1.350.000đ. Ngày 20/7/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 04/QĐ-XPHC, xử phạt Quách Văn H1 số tiền 5.000.000đ về hành vi: Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân theo điểm a, khoản 2, Điều 15- Nghị định 114/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.
Đối với hành vi Quách Văn H1 dùng chân đạp đổ làm hư hỏng xe mô tô biển kiểm soát 28F5-0433 vào ngày 05/02/2024 tại khu vực sân nhà ông Bùi Văn L1. Sau khi sự việc xảy ra chủ sở hữu hợp pháp là ông Bùi Văn L1 đã tự ý sửa chữa để sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không có căn cứ để xử lý hành vi của Quách Văn H1 nên HĐXX không xem xét.
Đối với Bùi Thị T1, sinh năm 1956, trú tại phố L, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28FZ-088.31 mà Quách Văn H1 dùng làm phương tiện đến nhà ông Bùi Văn L1 để gây mất an ninh trật tự và đánh nhau với Bùi Văn D, bản thân bà T1 không biết, không liên quan. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.
Đối với Bùi Thị P, sinh năm 1962, trú tại phố M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, là chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) con dao tổng chiều dài 72cm, chuôi dao màu vàng có bọc khâu kim loại màu sáng bạc dài 17cm, lưỡi dao có màu sáng bạc dài 55cm, bề rộng lưỡi dao có kích thước 3,2cm, đựng trong một bao dao bằng gỗ màu vàng có buộc dây dù màu đen có kích thước dài 63cm mà Quách Văn H1 dùng để đập phá, làm hư hỏng tài sản của gia đình ông L1, Quách Văn H1 đến tự ý lấy dao bà P không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.
[6] Về vật chứng:
- + 01 (một) con dao tổng chiều dài 72cm, chuôi dao màu vàng có bọc khâu kim loại màu sáng bạc dài 17cm, lưỡi dao có màu sáng bạc dài 55cm, bề rộng lưỡi dao có kích thước 3,2cm, đựng trong một bao dao bằng gỗ màu vàng có buộc dây dù màu đen có kích thước dài 63cm; dao cũ đã qua sử dụng thuộc quyền sử dụng của bà Bùi Thị P;
- + 01 (một) ghế xếp bằng gỗ, dạng ghế gập có phần tựa lưng, kích thước (64x34x32)cm, phần đế ngồi có kích thước (25x34)cm, tại thanh ngoài cùng của đế ngồi bị bung mối bắt rời ra ngoài; ghế cũ đã qua sử dụng, thuộc quyền sử dụng của ông Bùi Văn L1;
Những vật chứng trên đang quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn do chủ sở hữu không có yêu cầu gì nên cần tịch thu tiêu huỷ theo qui định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HDCUP, số loại 81, màu đỏ trắng, gắn biển kiểm soát 28FZ-088.31, xe cũ đã qua sử dụng thuộc quyền sử dụng của bà Bùi Thị T1 hiện đang quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo qui định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.
- + Đối với: 01 (một) tấm gương màu trắng bạc được bọc viền nhôm màu vàng, gương cũ đã qua sử dụng, kích thước (2,2x1,5)m, vùng gương vỡ có kích thước (0,8x0,64)m; 01 (một) chiếc quạt cây màu đen cao 1,22m, quạt cũ đã qua sử dụng bị bẹp méo vùng lồng quạt xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình ông Bùi Văn L1. Xét thấy việc trả lại tài sản trên không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu quản lý, bảo quản. (BL 193, 195; 196-201). Việc xử lý vật chứng nêu trên là phù hợp Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự nên HĐXX chấp nhận và không xem xét trong vụ án.
- + Đối với 01 (một) đoạn gậy (cọc rào bằng tre) dài khoảng 50cm mà Bùi Văn D dùng để làm hung khí chuẩn bị đánh nhau với Quách Văn H1 vứt tại hiện trường. Ngày 16/02/2024 Công an thị trấn V đã tiến hành truy tìm vật chứng có đặc điểm như trên nhưng chưa thu được nên HĐXX không xem xét trong vụ án.
[7] Về trách nhiệm dân sự.
- + Quách Văn H1 bị thương phải đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện L và Bệnh viện đa khoa tỉnh H từ ngày 05/02/2024 đến ngày 07/02/2024. Quách Văn H1 đề nghị bị cáo Bùi Văn D bồi thường các khoản chi phí trong quá trình điều trị, thu nhập thực tế bị mất và tổn thất về tinh thần với tổng số tiền là 71.670.927đ (Bảy mươi mốt triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn, chín trăm hai mươi bảy đồng), trong đó số tiền có hóa đơn là 11.795.927đ (Mười một triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn, chín trăm hai mươi bảy đồng). Hiện tại bị cáo Bùi Văn D đã bồi thường cho bị hại được số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng). Người bị hại không có yêu cầu đề nghị gì thêm, đồng thời có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Bùi Văn D. (BL 61-112; 267-275) đề nghị HĐXX chấp nhận và khỗng xem xét trong bản án không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, do đó HĐXX không xem xét trách nhiệm dân sự của bị cáo trong vụ án là phù hợp các Điều 584; 585; 586; 590 Bộ luật dân sự.
- + Đối với những thiệt hại về tài sản của gia đình ông Bùi Văn L1 mà Quách Văn H1 làm hư hỏng gồm: 01 (một) tấm gương màu trắng bạc đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc quạt cây màu đen đã qua sử dụng với tổng số tiền là 1.350.000đ (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Giữa ông L1 và H1 đã thoả thuận bồi thường xong không có yêu cầu gì khác. Riêng đối với thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 28F5-0433, ông L1 tự sửa chữa và không có yêu cầu, đề nghị gì nên HĐXX chấp nhận và không xem xét trong bản án là phù hợp các Điều 584; 585; 586; 589 Bộ luật dân sự.
[8] Từ những nhận định trên, HĐXX chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát; người bào chữa cho bị cáo về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về mức hình phạt: Xử phạt Bùi Văn D 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 54 (năm mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/09/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 (một) con dao tổng chiều dài 72cm, chuôi dao màu vàng có bọc khâu kim loại màu sáng bạc dài 17cm, lưỡi dao có màu sáng bạc dài 55cm, bề rộng lưỡi dao có kích thước 3,2cm, đựng trong một bao dao bằng gỗ màu vàng có buộc dây dù màu đen có kích thước dài 63cm; dao cũ đã qua sử dụng thuộc quyền sử dụng của bà Bùi Thị P;
- + 01 (một) ghế xếp bằng gỗ, dạng ghế gập có phần tựa lưng, kích thước (64x34x32)cm, phần đế ngồi có kích thước (25x34)cm, tại thanh ngoài cùng của đế ngồi bị bung mối bắt rời ra ngoài; ghế cũ đã qua sử dụng, thuộc quyền sử dụng của ông Bùi Văn L1;
- Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HDCUP, số loại 81, màu đỏ trắng, gắn biển kiểm soát 28FZ-088.31, xe cũ đã qua sử dụng thuộc quyền sử dụng của bà Bùi Thị T1;
(Vật chứng nêu trên hiện được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn theo đúng mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho ngày 15/08/2024).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Dương
