Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/DS-PT

Ngày: 17-5-2024

“V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Thanh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tân

Bà Vũ Thị Yển

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Mai- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2023/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 31/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 03 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa và thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn P, sinh năm 1953

Địa chỉ: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông P: Chị Lưu Thị H, sinh năm 1993, địa chỉ: Số C, L, phường L, thành phố H. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông P và anh M: Ông Đinh Ngọc P1 – Luật sư Văn phòng L1 – Đoàn luật sư tỉnh H. Có mặt

2. Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1963;

Địa chỉ: Chợ N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2000, địa chỉ: Số C, L, phường L, thành phố H. Có mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Lê Văn Q, sinh năm 1953, địa chỉ: Số A, đường G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội (mất ngày 18/10/2023).

2

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Q:

  • - Bà Hoàng Thị Lan H2, sinh năm 1956
  • - Chị Lê Hoàng L, sinh năm 1980
  • - Anh Lê Hoàng T, sinh năm 1990

Đều có địa chỉ: A, G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội. Đều vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H2, chị L và anh T: Ông Trần Văn G; địa chỉ: Số E phố Đ, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.

3.2. Bà Lê Thị V, sinh năm 1956, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

3.3. Bà Lê Thị Q1, sinh năm 1960, địa chỉ: Thôn N, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà V, bà Q1: Công ty L2; địa chỉ: Số E, phố Đ, phường T, quận C, thành phố Hà Nội; Đại diện là ông Trần Văn G – Giám đốc. Có mặt.

3.4. Anh Lê Văn M1, sinh năm 1977, địa chỉ: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của anh M1: Chị Lưu Thị H, sinh năm 1993, địa chỉ: Số C, L, phường L, thành phố H. Có mặt.

3.5. Chị Đặng Thị C, sinh năm 1978, địa chỉ: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

3.6. Ủy ban nhân dân thị trấn T.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn T1 – Chức vụ: Chủ tịch UBND;

Địa chỉ: Thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

4. Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H3 - Trưởng khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 30/09/2023 của Tòa án nhân huyện T, tỉnh Hải Dương, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện và ý kiến tại các buổi làm việc, nguyên đơn ông Lê Văn P trình bày: Bố mẹ ông là cụ Lê Văn H4 và cụ Đặng Thị Xuân s được 06 người con gồm: Ông Lê Văn S, ông Lê Văn Q, ông Lê Văn P, bà Lê Thị V, bà Lê Thị Q1, bà Lê Thị N; ông S chưa có vợ con, là liệt sỹ hy sinh năm 1972. Cụ H4 chết ngày 03/7/2004, cụ X chết ngày 09/6/2013. Thời điểm cụ H4, cụ X chết thì bố mẹ của hai cụ đều đã chết trước đó. Khi hai cụ chết có để lại các di sản gồm:

- Thửa đất số 08 tờ bản đồ số 34, diện tích 1147m² là đất ở tại đô thị; thửa số 04 tờ bản đồ số 34 diện tích 345m² là đất cây lâu năm và thửa đất số 54 tờ bản đồ số 28 diện tích 358,7 m² là đất nuôi trồng thủy sản, đều có địa chỉ tại: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi cụ H4 chết, cụ X tiếp tục quản lý đất và tài sản trên đất. Ngày 06/6/2013, Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp 03 Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất trên, đều đứng tên cụ Đặng Thị X1. Hiện tại, ông Q đang quản lý 03 thửa đất này và các tài sản trên đất.

- Ngoài các thửa đất trên thì cụ H4, cụ X1 còn có 03 thửa đất nông nghiệp gồm: Thửa 235/5, tờ bản đồ 02, diện tích 96m² và thửa 244/3, tờ bản đồ 02, diện tích 456m² hiện tại đang do ông quản lý, sử dụng; Thửa 272/2, tờ bản đồ 02, diện tích 240m² hiện tại đang do con trai ông là anh Lê Văn M1 quản lý, sử dụng.

Quan điểm của ông P là đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật các di sản của bố mẹ ông để lại. Riêng phần đất vườn (thửa số 04 tờ bản đồ số 34) hiện tại gia đình ông đã xây mộ của cụ H4, cụ X1 nên quan điểm của ông là không chia phần đất này để làm của chung, để các con cháu đều có quyền đến thắp hương, thờ cúng.

Ông P xác định thời điểm chia ruộng năm 1993, cụ H4, cụ X1 được chia thêm 3 thước (72m²) hương khói thờ cúng liệt sĩ. Ngoài ra, con trai ông là Lê Văn M1 ở với cụ H4, cụ X1 từ nhỏ và có khẩu trong hộ của cụ H4, cụ X1 nên khi chia ruộng, anh M1 bị trừ 03 thước (72m²) ruộng tiêu chuẩn ngoài đồng vào đất vườn của cụ H4, cụ X1. Khi anh M1 lấy vợ sinh con, cụ H4, cụ X1 cũng cho vợ chồng anh M1, chị C ra ở riêng; cho xây nhà, công trình phụ, trồng cây trên phần đất ở của hai cụ. Ông P đề nghị khi chia thừa kế di sản của cụ H4 cụ X1, đề nghị Tòa án xem xét trích trả công sức và 03 thước (72m²) tiêu chuẩn ruộng anh M1 bị trừ trong vườn. Ông cũng đề nghị Tòa án xem xét tiếp tục giao đất nông nghiệp cho ông và anh M1 sử dụng theo hiện trạng hiện nay vì ông và anh M1 đã sử dụng từ lâu và đã trồng cây, lập vườn. Thời điểm năm 1996, khi cụ H4, cụ X1 còn sống thì đã nói miệng là cho ông và anh M1 các thửa ruộng này và đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông quản lý.

Đối với biên bản họp gia đình ngày 10/3/2013 ông P xác định: Khi lập biên bản này, cụ X1 và 05 anh em ông có ký vào biên bản họp gia đình mục đích để cụ X1 đại diện gia đình đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 03 thửa đất vườn, đất ao, đất ở; không phải gia đình thống nhất toàn bộ 03 thửa đất trên là của cụ X1. Ông xác định quyền sử dụng 03 thửa đất trên vẫn là tài sản chung của cụ X1 và 05 anh em ông.

Đối với bản di chúc lập ngày 06/6/2009 của cụ Đặng Thị X1, quan điểm của ông P xác định di chúc này không hợp pháp, vì: Thời điểm lập di chúc thì đất đó không phải là tài sản riêng của cụ X1 nên cụ X1 không có quyền định đoạt; Trong bản di chúc cũng không có chữ ký của ông và anh M1; Sau khi cụ X1 chết thì di chúc này cũng không được công bố ngay cho mọi người được biết, mà mãi cuối năm 2021 ông Q mới đưa ra.

Bị đơn bà Lê Thị N trình bày: Thống nhất các nội dung như ông P trình bày. Đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật các di sản của cụ H4, cụ X1 để lại và xem xét trích trả công sức và đất tiêu chuẩn ruộng bị trừ vào vườn cho anh M1 theo quy định pháp luật nếu có. Bà cũng nhất trí để lại phần đất vườn (thửa số 04

tờ bản đồ số 34) là tài sản chung, không chia, để các con cháu đều có quyền đến thắp hương, thờ cúng.

Đối với đất nông nghiệp của cụ H4, cụ X1 mà hiện tại ông P, anh M1 đang quản lý, sử dụng, quan điểm của bà là đề nghị tiếp tục giao phần đất nông nghiệp đó cho ông P và anh M1 sử dụng vì ông P, anh M1 đã sử dụng từ lâu và đã trồng cây, lập vườn.

Đối với bản di chúc lập ngày 06/6/2009 của cụ Đặng Thị X1, quan điểm của bà là di chúc này không hợp pháp, vì: Thời điểm lập di chúc đất không phải là tài sản riêng của cụ X1 nên cụ X1 không quyền định đoạt; Trong bản di chúc cũng không có đầy chữ ký của cả 05 anh em; Sau khi cụ X1 chết thì di chúc này cũng không được công bố ngay, mà mãi cuối năm 2021 ông Q mới phát cho mỗi người một bản phô tô thì bà mới biết. Bà không đồng ý để toàn bộ diện tích đất của bố mẹ bà dùng vào việc thờ cúng và do ông Q quản lý.

Đối với biên bản họp gia đình ngày 10/3/2013, quan điểm của bà là khi ký biên bản mục đích của cụ X1 và 05 anh em bà là để cụ X1 đại diện gia đình đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 03 thửa đất vườn, đất ao, đất ở; không phải mục đích ký để xác định các thửa đất đó là tài sản của riêng cụ X1.

Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 27/5/2023 và ý kiến tại các buổi làm việc ông Q trình bày xác định: Ngày 03/7/2004, cụ H4 chết không để lại di chúc. Ngày 10/3/2013, cụ X1 họp gia đình có đầy đủ các con và đại diện khu xóm, người làm chứng. Tại buổi họp, cụ X1 và các con đều nhất trí để cho cụ X1 đứng tên toàn bộ diện tích đất đai, nhà cửa hiện có. Năm 2013, cụ X1 chết, trước khi chết cụ X1 có để lại di chúc lập ngày 06/6/2009. Trong nội dung di chúc cụ X1 xác định để lại toàn bộ đất đai, nhà cửa mà cụ đang trực tiếp quản lý cho các con làm của chung và không được bán cho người ngoài, đồng thời giao cho ông là con trưởng được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn bộ đất đai hai cụ để lại, để ông Q có trách nhiệm thanh toán nghĩa vụ, giao dịch với nhà nước và trông coi nhà cửa đất đai vườn cây thờ cúng tổ tiên... Việc lập di chúc của cụ X1 có sự chứng kiến của các con và hai người làm chứng là ông Lê Quang T2 và ông Nguyễn Văn H3 (trưởng khu).

Khi bố mẹ ông còn sống, ông P nhiều lần yêu cầu cụ H4 và cụ X1 chia cho ông P một phần diện tích đất để làm chỗ ở cho con trai ông P nhưng hai cụ không đồng ý vì hai cụ cho rằng đất hai cụ đang sống là do tổ tiên để lại. Ông P không phải là con trưởng, khi ông P ra lập gia đình riêng hai cụ đã mua cho ông P một mảnh đất riêng chính là mảnh đất hiện gia đình ông P đang sinh sống tại khu H, thị trấn T, huyện T.

Sau khi cụ X1 chết, các anh em đều thống nhất giữ lại nguyên trạng toàn bộ diện tích nhà đất của bố mẹ để lại làm nơi thờ cúng ông bà tổ tiên cho các con cháu về sau theo như di nguyện của cụ X1 để lại trong di chúc. Chỉ có ông P là không đồng ý và yêu cầu các anh chị em trong gia đình chia cho ông P một phần diện tích

đất trong đó có một phần căn nhà gỗ cấp 4, nhưng các anh chị em trong gia đình không đồng ý vì trái với di nguyện của cụ X1 để lại trong di chúc cũng như phải đối diện nguy cơ là phá dỡ toàn bộ ngôi nhà gỗ hiện là nơi thờ cúng tổ tiên của gia đình. Ngày 02/12/2021, các anh chị em trong gia đình đã họp và dự kiến để cho anh Lê Văn M1 (là con trai ông P) sử dụng ½ diện tích thửa đất số 54 tờ bản đồ số 28 (đất ao) và không được bán, chuyển nhượng cho người khác; Toàn bộ diện tích nhà đất còn lại theo di chúc của cụ X1 sẽ được giữ nguyên để thờ cúng tổ tiên. Nhưng ông P không đồng ý theo phương án này nên anh em chưa thống nhất được.

Nay ông P có đơn yêu cầu chia di sản, ông Q đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia di sản của ông P; Đề nghị Tòa án công nhận di chúc của cụ Đặng Thị X1 lập ngày 06/6/2009 là hợp pháp; Đề nghị tuyên bố các di sản đề cập trong di chúc của cụ X1 là di sản dùng vào việc thờ cúng theo như di nguyện của cụ X1 tại di chúc. Giao cho ông là người đại diện hợp pháp được chỉ định trong di chúc được toàn quyền quản lý khối di sản của cụ H4, cụ X1 theo nội dung di chúc.

Ông Q cũng đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật các tài sản của cụ H4, cụ X1 để lại mà không đề cập trong di chúc lập ngày 06/6/2009 bao gồm: Thửa đất số 336 tờ bản đồ TH17 tại Đồng Ruối với 226,8 m²; thửa đất số 219 tờ bản đồ số TH17 tại khu Đ với diện tích 96 m²; thửa đất số 289 tờ bản đồ TH17 tại khu Đ diện tích 463,6 m² là diện tích đất nông nghiệp mà hai cụ được giao khi còn sống. Nhất trí tiếp tục giao các thửa đất trên cho ông P và anh M1 tiếp tục sử dụng theo hiện trạng.

Đối với diện tích đất bị trừ ngoài đồng của anh M1, nếu có căn cứ để xác định thì đề nghị trích trả cho anh M1 theo giá trị để bảo tồn được toàn bộ diện tích đất của các cụ đã có dùng vào việc thờ cúng.

Đối với biên bản họp gia đình ngày 10/3/2013, quan điểm của ông Q, bà V, bà Q1 xác định là khi ký biên bản họp này là ông và các em đã từ chối di sản để cho cụ X1 nên cụ X1 đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cụ X1 có toàn quyền quyết định đối với toàn bộ diện tích đất đó.

Bà V, bà Q1 trình bày quan điểm: Thống nhất toàn bộ ý kiến với quan điểm của ông Q.

Anh Lê Văn M1 trình bày: Anh là con của ông Lê Văn P và là cháu nội cụ H4 và cụ X1. Anh M1 ở với ông bà nội từ nhỏ nên thời điểm chia ruộng anh có tên trong khẩu của gia đình cụ H4, cụ X1. Khi chia ruộng năm 1993, mỗi khẩu sẽ được chia tiêu chuẩn là 1 sào 03 thước (tương ứng 432m²). Do hộ gia đình cụ H4, cụ X1 lúc đó sử dụng diện tích đất rộng nên khi chia ruộng, mỗi khẩu bị trừ 3 thước ngoài đồng vào trong vườn và chỉ được chia ra đồng mỗi khẩu 1 sào (360m²). Thời điểm chia ruộng, cụ H4, cụ X1 phải thờ cúng liệt sĩ nên hai cụ được chia thêm 3 thước (72m²) hương khói thờ cúng liệt sĩ ở ngoài đồng. Do vậy, khi giao đất ruộng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp thì hộ gia đình cụ H4, cụ X1 có

03 khẩu được chia, tổng diện tích là 1.152m². Năm 1996, anh lập vườn nên đã tách tiêu chuẩn ruộng của anh được chia ngoài đồng là thửa 260/13 diện tích 360m² ra khỏi hộ của cụ H4, cụ X1. Đến năm 1998, khi thành lập thị trấn T và đo đạc lại, lập bản đồ địa chính 1998 thì phần diện tích đất của cụ H4, cụ X1 sau khi đo vẽ lại, chỉ còn 03 thửa là thửa 336 tờ bản đồ T-H-17 diện tích 226,8m² (đồng ruối); thửa 219 tờ bản đồ T-H-17 diện tích 96m² (Đồng rậm) và thửa 289 tờ bản đồ T-H-17 diện tích 463,6m² (đồng rậm).

Thời điểm khoảng năm 1995, cụ H4, cụ X1 có nói là cho anh sử dụng thửa ruộng ở đồng ruối và cho bố anh (ông P) sử dụng hai thửa ruộng còn lại. Khi cho thì cụ H4, cụ X1 không có viết văn bản, giấy tờ gì nhưng thực tế từ trước đến nay anh và bố anh vẫn quản lý, sử dụng các thửa ruộng này và trồng cây. Bố anh (ông P) cũng là người quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ H4, cụ X1. Quan điểm của anh là đề nghị Tòa án xem xét giao phần đất nông nghiệp của cụ H4, cụ X1 cho anh và bố anh tiếp tục sử dụng theo di nguyện của cụ H4, cụ X1.

Đối với 03 thước tiêu chuẩn ruộng của anh bị trừ vào trong vườn của cụ H4, cụ X1. Anh cũng nhất trí theo quan điểm để lại toàn bộ thửa đất vườn của hai cụ (thửa số 04 tờ bản đồ số 34) dùng vào việc thờ cúng, không chia trả cho anh và đề nghị Tòa án giải quyết chia trả cho anh ở vị trí đất khác.

Ngoài ra, anh M1 cũng xác định, năm 2002, cụ H4, cụ X1 cho anh làm ăn riêng và nói miệng là cho anh phần diện tích đất chiều ngang là 6,5m, chiều sâu khoảng 20m nằm trên thửa đất thổ cư của ông bà. Sau đó, anh và vợ anh là Đặng Thị C đã xây nhà cấp 4, lợp proximang, làm bếp sấy vải, bể nước, nhà vệ sinh xây gạch chỉ đỏ đổ mái bằng, chuồng lợn, trồng 01 cây xoài trên phần diện tích đất ông bà cho. Năm 2006, ông Q về đã yêu cầu vợ chồng anh không được ở trên đất của ông bà. Sau đó, vợ chồng anh đã chuyển về ở tại nhà, đất của ông P. Anh M1 đề nghị Tòa án xem xét giải quyết phần công sức của vợ chồng anh khi giải quyết vụ án.

Chị C là vợ anh M1 trình bày: Thống nhất ý kiến của anh M1. Đề nghị Tòa án khi giải quyết chia thừa kế di sản của cụ H4, cụ X1 thì xem xét cho chị và anh M1 được tiếp tục sử dụng phần đất nông nghiệp mà vợ chồng chị sử dụng của cụ H4, cụ X1 và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết phần công sức vợ chồng chị xây nhà, công trình, trồng cây trên đất của cụ H4, cụ X1.

Ủy ban nhân dân thị trấn T xác định:

Các thửa đất tranh chấp (Thửa số 8, thửa số 4 tờ bản đồ số 34 và thửa số 54 tờ bản đồ số 28 bản đồ năm 2010) của cụ H4, cụ X1 đã được sử dụng trước giai đoạn đăng ký 299. Sau khi cụ H4 chết, cụ Đặng Thị X1 mới làm đơn đề nghị và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên cụ Đặng Thị X1 vào năm 2013. Quá trình sử dụng đất, ranh giới giữa các thửa đất này với các hộ gia đình xung quanh rõ ràng, đã xây tường bao xung quanh và không có tranh chấp. Về diện tích, kích thước của các thửa đất được đo vẽ qua các thời kỳ có sự biến động là do sai số

do đo đạc, vì trước đây đo vẽ thủ công còn sau này đo vẽ bằng máy móc nên độ chính xác cao hơn.

Đối với thửa số 8 tờ bản đồ số 34 bản đồ năm 2010, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì diện tích cấp giấy là 1147 m² là đất ở tại đô thị. Tại thời điểm Tòa án đo đạc thẩm định. Tổng diện tích thửa đất này theo hiện trạng là 1.194,7m². Qua lồng ghép với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho cụ X1 thì diện tích bị tăng so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 47,7m² do: Có 36,9m² đất tiếp giáp với đường ngõ phía đông là đất công trình giao thông do Ủy ban nhân dân xã Q2 (đã được xác định khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Hiện tại, một phần tường bao và cây cối của gia đình cụ X1 vẫn nằm trên phần đất này. Trường hợp Tòa án chia di sản thừa kế thì phần đất nằm trong đất giao thông này đề nghị không chia vì đây không phải là di sản thừa kế của cụ H4, cụ X1. Ủy ban đồng ý tạm giao cho gia đình sử dụng phần đất này cho đến khi nhà nước có nhu cầu thì gia đình phải tháo dỡ, di dời các công trình cây cối trên đất trả lại mặt bằng cho nhà nước sử dụng làm đường giao thông.

Ngoài ra, hiện tại, phần tiếp giáp với các gia đình xung quanh vẫn giữ nguyên tường bao, ranh giới cũ như thời điểm đo vẽ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; các gia đình không có tranh chấp. Hình thể và diện tích đất tăng 10,8m² là do sai sót khi đo đạc tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với đất nông nghiệp: Căn cứ vào sổ giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì năm 1993, hộ gia đình cụ H4 và cụ X1 có 03 khẩu được chia ruộng gồm: Cụ Lê Văn H4, cụ Đặng Thị X1 và anh Lê Văn M1 (là con trai ông P và là cháu nội của cụ H4, cụ X1). Thời điểm chia ruộng năm 1993, thực hiện Nghị Quyết 03 của Tỉnh ủy H5, Quyết định 721 của Ủy ban nhân dân tỉnh H và Nghị quyết của đảng ủy xã T, huyện N (nay là thị trấn T, huyện T) mỗi khẩu trong xã được chia 1 sào 3 thước (tương ứng 432m²). Đối với những hộ gia đình đang sử dụng đất có diện tích lớn hơn hạn mức đất ở 300m², thì phần diện tích đất vượt quá 300m² sẽ được tính để trừ tiêu chuẩn ruộng được chia ngoài đồng, nhưng tối đa mỗi khẩu bị trừ không quá 3 thước (bằng 72m²). Do thời điểm đó hộ gia đình cụ H4, cụ X1 có diện tích đất đang sử dụng rộng nên mỗi khẩu trong hộ gia đình cụ H4, cụ X1 thời điểm đó bị trừ 72m² tiêu chuẩn ruộng ở ngoài đồng vào vườn. Tiêu chuẩn bị trừ là trừ vào đất vườn tại thửa số 4 tờ bản đồ số 34 bản đồ năm 2010. Tổng 03 khẩu bị trừ 216m². Mỗi khẩu được chia ra đồng là 1 sào (360m²). Do hai cụ có con Lê Văn S là liệt sỹ nên được chia thêm 03 thước (72m²) để hương khói thờ cúng liệt sỹ.

Tại thời điểm chia ruộng hộ gia đình cụ H4, cụ X1 được chia 1.152m², tại 04 thửa và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 251 ngày 10/10/1993.

Quá trình sử dụng đất, cụ H4 cụ X1 đã tách trả cho anh M1 tiêu chuẩn ruộng là 01 sào là thửa số 260/13 tờ bản đồ số 2 diện tích 360m², xứ đồng Bãi Nghê và

anh M1 đang sử dụng thửa này. Sau khi tách trả còn lại 03 thửa gồm: Thửa số 235/5 tờ bản đồ số 2 diện tích 96m², xứ đồng Rậm; thửa số 272/2 tờ bản đồ số 2 diện tích 240m², xứ đồng Rậm; Thửa số 244/3 tờ bản đồ số 2 diện tích 456m², xứ đồng Bãi Nghê. Năm 1998, khi đo đạc lại và bàn giao diện tích; cụ H4, cụ X1 có 03 thửa: Thửa số 336 tờ bản đồ T-H-17, diện tích 226,8m² xứ đồng ruối, đất lúa; thửa 219 tờ bản đồ T-H-17, diện tích 96 m² xứ đồng Rậm, đất lúa; thửa 289 tờ bản đồ T-H-17, diện tích 463,6m² xứ đồng Rậm, đất vườn.

Quá trình sử dụng thì thửa 219 tờ bản đồ T-H-17, diện tích 96 m² xứ đồng Rậm của cụ H4, cụ X1 đã được địa phương đổi sang thửa 129, tờ bản đồ số 5, diện tích 96m² ở xứ đồng Quan (bản đồ 2006). Khi cập nhật bản đồ 2006, do ông P thời điểm đó sử dụng thửa đất ruộng này nên có ghi nhầm tên thửa đất này tên ông Lê Văn P. Thực tế thửa đất này vẫn của cụ H4, cụ X1. Hiện tại, theo bản đồ 2006, đất nông nghiệp của cụ H4, cụ X1 gồm có 03 thửa: Thửa 510, tờ bản đồ số 5, diện tích 228m², xứ đồng R, là đất trồng lúa, hiện anh M1 đang sử dụng. Thửa số 445, tờ bản đồ số 5, diện tích 512m², xứ đồng bãi Rậm, hiện tại ông P đang sử dụng và đã chuyển đổi sang đất trồng cây lâu năm. Thửa đất số 129, tờ bản đồ số 5, diện tích 96m², xứ đồng Quan, là đất trồng lúa, hiện tại ông P đang sử dụng.

Tại biên bản xác minh với ông H3 - Trưởng khu 8 cung cấp: Ông là đội trưởng đội sản xuất của xóm C thuộc xã T, huyện N (nay là thị trấn T, huyện T) từ năm 1989 và là tổ trưởng tổ chia ruộng của năm 1993, hiện nay là trưởng khu H, thị trấn T. Hiện tại toàn bộ đất nông nghiệp của hai cụ do ông P và anh M1 quản lý, sử dụng. Thời điểm chia ruộng, 03 thước thờ cúng liệt sĩ khi chia cho hộ gia đình cụ H4, cụ X1 nằm trong thửa số 244/3 tờ bản đồ số 2 (Bản đồ chia ruộng) diện tích 456m², xứ đồng Bãi Nghê. Hiện tại, là thửa số 445, tờ bản đồ số 5 (Bản đồ 2006), diện tích 512m², xứ đồng bãi Rậm đang do ông P quản lý, sử dụng. Hiện tại, ai là người thờ cúng liệt sĩ thì gia đình ông P và ông Q vẫn chưa thống nhất được.

Đối với 03 thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ X1 là đất ông cha để lại. Năm 2009, trước khi cụ X1 chết thì có lập di chúc. Khi đó, cụ X1 hoàn toàn minh mẫn. Gia đình có mời ông và 1 số con của cụ cùng ông Lê Quang T2 là người trong họ của cụ H4 đến làm chứng. Thời điểm đó, ông P được mời nhưng không sang họp. Tại thời điểm đó, cụ X1 có nói nội dung di chúc để cho một người ghi lại nhưng ông không nhớ rõ ai là người ghi. Nội dung di chúc phản ánh đúng ý chí của cụ X1. Năm 2013, khi gia đình ông P họp thống nhất giao toàn bộ các thửa đất của gia đình để cụ X1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các con của cụ đều nhất trí. Văn bản họp gia đình này có ông, anh Lê Văn T3, anh Lê Văn V1 và 05 người con của cụ X1 ký, điểm chỉ, có xác nhận của địa phương. Sau đó, cụ X1 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ X1.

- Tại biên bản xác minh với Phòng Tài nguyên và môi trường huyện T xác định: Thửa đất số 08 tờ bản đồ số 34 tại khu H, thị trấn T đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00084, tên chủ sử dụng là Đặng Thị X1, diện tích được cấp là 1147 m² là đất ở đô thị. Tại sơ đồ hiện trạng Tòa án đo vẽ thẩm định ngày 08/8/2023, diện tích thửa đất là 1194,7 m² là chưa trừ phần đất công trình đường. Còn đối với hình thể, số liệu đo đạc thực tế có khác so với số liệu, hình thể trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm cấp giấy và không có tranh chấp với các hộ sử dụng đất liền kề thì xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Trường hợp sau khi đã trừ phần đất lấn chiếm đường giao thông mà vẫn dôi dư diện tích do đo đạc thì phần diện tích dôi dư được xác định là đất trồng cây lâu năm.

Thửa đất số 54, tờ bản đồ số 28 tại khu H, thị trấn T được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/6/2013, tên người sử dụng là cụ Đặng Thị X1, số vào sổ là CH00083, diện tích 358,7 m² là đất nuôi trồng thủy sản. Theo sơ đồ đo đạc thẩm định ngày 08/8/2023, diện tích là 347,5 m², giảm 11,2 m² so với diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc giảm này là sai số do đo đạc và diện tích thửa đất sẽ được xác định theo số liệu đo đạc thực tế.

Thửa đất số 4, tờ bản đồ số 34 tại thị trấn T được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/6/2013 tên người sử dụng là cụ Đặng Thị X1, số vào sổ là CH00082, diện tích 345,0 m² là đất cây lâu năm, sử dụng lâu dài. Theo sơ đồ đo đạc thẩm định ngày 08/8/2023, diện tích là 336,8m², giảm 8,2m² so với diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc giảm này là sai số do đo đạc và diện tích thửa đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế.

- Tại biên bản định giá ngày 18/8/2023, Hội đồng định giá xác định: Đối với thửa 08, tờ bản đồ số 34: Đất ở tại vị trí đầu tiên của thửa đất tính từ hướng T (sát đường thôn) kéo đến mét thứ 20 hướng Đông Nam có đất giá trị là 3.000.000đ/m². Các vị trí còn lại đất ở có giá 2.200.000đ/m². Đất tại thửa số 04, tờ bản đồ số 34 là đất trồng cây lâu năm có giá 1.000.000đ/m². Đất tại thửa 54, tờ bản đồ số 28 là đất nuôi trồng thủy sản có giá 1.200.000đ/m².

Đối với đất nông nghiệp: 02 thửa đất nông nghiệp tại xứ đồng Ruối và đồng Rậm ở vị trí 1, trong đê có giá 150.000đ/m²; Thửa đất nông nghiệp tại xứ đồng Quan ở vị trí 1 trong đê có giá là 170.000đ/m².

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện T đã căn cứ: Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213, 609, 610, 611, 612, 613,614, 615, 616, 618, 624, 625, 627, 628, 630, 631, 645, 648, 649, 650, 651, 658, 660 Bộ luật Dân sự; Luật Phí và lệ phí; điểm b

khoản 7 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn P về yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ Lê Văn H4 và cụ Đặng Thị X1 gồm: Đất và tài sản trên đất tại thửa số 4 và thửa số 8 tờ bản đồ số 34; thửa số 54, tờ bản đồ số 28 bản đồ địa chính thị trấn T năm 2010.

2. Tuyên xử toàn bộ di chúc của cụ Đặng Thị X1 lập ngày 06/6/2009 không có hiệu lực pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn Q về việc đề nghị Tòa án công nhận di chúc của cụ Đặng Thị X1 lập ngày 06/6/2009 là hợp pháp;

Không chấp nhận đề nghị tuyên bố các di sản đề cập trong di chúc của cụ X1 là di sản dùng vào việc thờ cúng theo như di nguyện của cụ X1 tại di chúc;

Không chấp nhận giao cho ông Q là đại diện hợp pháp được chỉ định trong di chúc được toàn quyền quản lý khối di sản theo nội dung di chúc.

3. Chấp nhận yêu cầu của ông Q về yêu cầu đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với: Diện tích đất nông nghiệp tại thửa 510, tờ bản đồ số 5, xứ đồng Ruối; Thửa số 445, tờ bản đồ số 5, xứ đồng Rậm; Thửa đất số 129, tờ bản đồ số 5, xứ đồng Quan. (Theo bản đồ canh tác năm 2006 thị trấn T).

4. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ Lê Văn H4 và cụ Đặng Thị X1 gồm có 05 người là: ông Lê Văn Q, ông Lê Văn P, bà Lê Thị V, bà Lê Thị Q1, bà Lê Thị N.

5. Xác định di sản thừa kế theo pháp luật của cụ H4, cụ X1 gồm:

  • - Diện tích 1157,8m² đất đo vẽ theo hiện trạng tại thửa số 8 tờ bản đồ số 34 bản đồ năm 2010, có giá 2.993.320.000đ. Trong đó: 1147m² là đất ở đô thị và 10,8m² là đất trồng cây lâu năm.
  • Công trình, cây cối trên đất: 01 nhà gỗ giá 0đ; bể nước giá 0đ; giếng nước giá 0đ; chuồng nuôi chó giá 0đ; trụ cổng gạch chỉ giá 378.000đ; Mái ngói cổng giá 898.900đ; sân lát gạch đỏ giá 4.564.000đ; mái tôn kết cấu sắt giá: 1.730.700đ; Tường bao gạch chỉ giá 6.743.400đ; 27 cây chuối; 07 cây nhãn; 11 cây vải; 17 cây hồng xiêm; 01 cây chay; 03 cây mít; 08 cây bưởi; 01 cây sung; 01 cây khế; 01 cây na; 03 khóm gấc (Tổng giá trị cây là 27.949.000₫).
  • - Diện tích 347,5 m² đất đo vẽ theo hiện trạng tại thửa số 54, tờ bản đồ số 28 bản đồ năm 2010, có giá là 417.000.000đ, là đất nuôi trồng thủy sản.
  • Công trình, cây cối trên đất: Kè bờ ao bê tông cốt thép giá 407.300đ; chuồng chăn nuôi gà giá 2.133.500đ; Tường bao gạch chỉ giá 6.274.000đ; 04 cây vải; 01 cây mít; 01 cây dừa, 04 cây chuối; 08 giàn gấc (tổng giá trị cây là 2.684.000₫).
  • - Diện tích 264,8m² nằm trong diện tích 336,8m² đo vẽ theo hiện trạng tại thửa đất số 4, tờ bản đồ số 34 bản đồ năm 2010, giá 264.800.000₫ là đất trồng cây lâu năm.
  • Công trình, cây cối trên đất trị giá 13.692.900đ, trong đó: Đường bê tông xi măng giá 320.900đ; sân bê tông xi măng giá 201.000đ; bờ be gạch chỉ giá 225.000đ; tường bao gạch chỉ giá 2.977.000đ; 05 cây vải, 19 cây cau; 01 cây mít; 11 cây chuối; 03 giàn gấc tổng giá trị cây là 9.969.000₫
  • - Đất nông nghiệp gồm: Diện tích 228m² tại thửa 510, tờ bản đồ số 5, bản đồ 2006, xứ đồng Ruối có giá là 34.200.000đ; Diện tích 440m² nằm trong diện tích 512m² tại thửa số 445, tờ bản đồ số 5, bản đồ 2006, xứ đồng Rậm có giá 66.000.000đ; Diện tích 96m² tại thửa đất số 129, tờ bản đồ số 5, bản đồ 2006, xứ đồng Quan, có giá 16.320.000đ.

Tổng giá trị đất, tài sản, công trình, cây cối trên đất là di sản của cụ H4, cụ X1 là: 3.859.095.700đ.

6. Trích trả công sức:

Trích trả công sức quản lý di sản, duy trì, tôn tạo di sản của anh M1 tương ứng với số tiền 210.000.000đ.

Trích trả công sức quản lý di sản, duy trì, tôn tạo di sản cho ông P tương ứng với số tiền 20.000.000đ.

Trích trả công sức quản lý di sản, duy trì, tôn tạo di sản cho ông Lê Văn Q tương ứng với số tiền là 590.429.283₫.

7. Chia di sản thừa kế:

  • * Chia cho ông Q, ông P, bà V, bà Q1, bà N mỗi người được hưởng kỷ phần di sản thừa kế là: 607.733.283₫.
  • * Chia hiện vật:
    • - Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Q, ông P, bà V, bà Q1, bà N, anh M1: Chia cho ông Q, ông P, bà V, bà Q1, bà N được sử dụng toàn bộ diện tích 336,8m² đất tại thửa số 4, tờ bản đồ số 34 bản đồ năm 2010 và tài sản, công trình, cây cối trên đất gồm: Đường bê tông xi măng; sân bê tông xi măng; bờ be gạch chỉ; tường bao gạch chỉ; 05 cây vải, 19 cây cau; 01 cây mít; 11 cây chuối; 03 giàn gấc, để làm tài sản chung dùng vào việc thờ cúng. Tổng giá trị là 350.492.900đ, tương ứng kỷ phần ông Q, ông P, bà V, bà Q1, bà N mỗi người được chia là 70.098.580đ. Ông Q, ông P, bà V, bà Q1, bà N đều có trách nhiệm quản lý, trông coi.
    • - Chia cho ông Q, bà V, bà Q1 được sử dụng phần đất được giới hạn bởi các điểm A1 đến A2', A3', A4', B, E, A18, A19, C, A20 đến A27 về A1 có diện tích là 620,4m² (trong đó: 10,8m² đất vườn và 609,6m² đất ở đô thị) tại thửa số 8 tờ bản đồ số 34 bản đồ năm 2010, có giá là 1.811.040.000đ. Tạm giao phần đất công trình giao thông giới hạn bởi các điểm A2, A3, A4, D, B, A4', A3', A2' về A2 có diện tích 19,1m² cho ông Q, bà V, bà Q1 sử dụng.

Giao toàn bộ phần công trình, cây cối trên phần đất được chia cho ông Q, bà V, bà Q1 sử dụng giá trị 22.473.900đ, gồm: Phần tài sản anh M1, chị C xây dựng, trồng: 01 nhà cấp 4 lợp proximang giá 0đ; 01 bếp sấy vải giá 0đ; 01 bể nước giá 0đ; 01 nhà vệ sinh xây gạch chỉ đỏ giá 0đ; 01 chuồng lợn, gà giá 2.794.600đ; trồng 01 cây xoài giá 70.000đ. Tổng: 2.864.600đ; Phần di sản: 01 nhà gỗ giá 0đ; 01 bể nước giá 0đ; giếng nước giá 0đ; chuồng nuôi chó giá 0đ; trụ cổng gạch chỉ giá 378.000đ; Mái ngói cổng giá 898.900đ; sân lát gạch đỏ giá 4.564.000đ; mái tôn kết cấu sắt giá: 1.730.700đ; Tường bao gạch chỉ giá 3.371.700đ; 16 cây chuối; 01 cây nhãn; 04 cây vải; 07 cây hồng xiêm; 01 cây chay; 02 cây mít; 03 cây bưởi; 01 cây sung; 01 cây na; 02 khóm gấc (tổng giá trị cây: 8.666.000). Tổng giá trị đất và tài sản trên phần đất được chia: 1.830.649.300đ. Ông Q, bà V, bà Q1 mỗi người được hưởng là 610.216.433₫.

Ghi nhận sự thỏa thuận, thống nhất của ông Q, bà V, bà Q1 không đề nghị phân chia cụ thể đất và tài sản trên phần đất này. Giao cho ông Q được đại diện quản lý, trông coi.

- Chia cho ông Q được sử dụng toàn bộ diện tích 347,5m² tại thửa số 54, tờ bản đồ số 28 bản đồ năm 2010, là đất nuôi trồng thủy sản. Có giá trị 417.000.000đ. Giao toàn bộ công trình, tài sản trên thửa đất này giá trị 11.498.800đ, gồm: Kè bờ ao bê tông cốt thép giá 407.300đ; chuồng chăn nuôi gà giá 2.133.500đ; Tường bao gạch chỉ giá 6.274.000đ; 04 cây vải; 01 cây mít; 01 cây dừa, 04 cây chuối; 08 giàn

gấc (tổng giá trị cây là 2.684.000₫). Tổng giá trị đất và tài sản trên đất: 428.498.800₫.

- Chia cho bà N phần đất được giới hạn bởi các điểm B, A5', A15, A16, A17, E về B có diện tích là 251,3m², là đất ở đô thị, tại thửa số 8 tờ bản đồ số 34 bản đồ năm 2010, có giá trị là 552.860.000đ. Tạm giao phần đất công trình giao thông được giới hạn bởi các điểm D, A5, A5', B về D cho bà N tiếp tục sử dụng. Giao toàn bộ phần công trình, cây cối trên phần đất được chia cho bà N sử dụng giá trị 9.708.900đ, gồm: Tường bao gạch chỉ giá 1.123.900đ; 01 cây chuối; 02 cây nhãn; 05 cây vải; 04 cây hồng xiêm; 01 cây khế (tổng giá trị cây 8.585.000₫). Tổng giá trị đất, tài sản trên đất: 562.568.900đ.

- Chia cho ông P được hưởng các tài sản sau:

  • + Phần đất được giới hạn bởi các điểm A5', A6', A8, A9, A10, A11, A12, A13, A14, A15 về A5', có diện tích 286,1m², là đất ở tại thửa số 8 tờ bản đồ số 34 bản đồ năm 2010 cho ông P sử dụng, có giá trị là 629.420.000đ; Tạm giao phần đất công trình giao thông được giới hạn bởi các điểm A5, A6, A7, A8, A6', A5' về A5 cho ông P tiếp tục sử dụng. Giao toàn bộ phần công trình, cây cối trên phần đất được chia có giá là: 12.915.800đ cho ông P sử dụng gồm: Tường bao gạch chỉ giá 2.247.800đ; 10 cây chuối; 04 cây nhãn; 02 cây vải; 06 cây hồng xiêm; 03 cây mít; 08 cây bưởi; 01 khóm gấc. Tổng giá trị đất, công trình, cây cối: 642.335.800đ.
  • + Diện tích 440m² nằm trong diện tích 512m² tại thửa số 445, tờ bản đồ số 5, bản đồ 2006, xứ đồng Rậm có giá 66.000.000đ. Tạm giao cho ông P sử dụng diện tích 03 thước = 72m² đất nông nghiệp hương khói liệt sĩ nằm trong thửa số 445, tờ bản đồ số 5, bản đồ 2006, xứ đồng Rậm. Tổng diện tích: 512m².
  • + Diện tích 96m2 tại thửa đất số 129, tờ bản đồ số 5, bản đồ 2006, xứ đồng Quan, có giá: 16.320.000đ giao cho ông P tiếp tục sử dụng.

- Giao cho anh M1 sử dụng diện tích 228m² đất nông nghiệp tại thửa 510, tờ bản đồ số 5, bản đồ 2006, xứ đồng Ruối có giá là 34.200.000đ.

(Việc phân chia đất và tài sản theo các sơ đồ kèm theo bản án)

  • * Xác định tổng kỷ phần hiện vật: Ông Q được hưởng 1.108.813.733đ; bà V được hưởng 680.314.933đ; bà Q1 được hưởng 680.314.933đ; bà N được hưởng 632.667.400đ; ông P được hưởng 794.754.300đ; anh M1 được hưởng 34.200.000đ.

8. Buộc ông Q, bà V, bà Q1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho anh M1, chị C giá trị các công trình của anh M1, chị C xây 01 nhà cấp 4 lợp; 01 bếp sấy vải; 01 bể nước; 01 nhà vệ sinh xây gạch chỉ đỏ; 01 chuồng lợn, gà; trồng 01 cây xoài. Tổng: 2.864.600đ. Mỗi người thanh toán là 954.866₫.

Buộc ông Q, ông P, bà N, bà V và bà Q1 phải thanh toán cho anh M1 giá trị 72m² đất tiêu chuẩn 721 của anh M1 bị trừ vào thửa số 4, tờ bản đồ số 34 bản đồ năm 2010 giá 72.000.000đ. Cụ thể đối trừ với phần giá trị di sản được chia, buộc ông P phải thanh toán trả cho anh M1 167.021.017đ; Bà N phải thanh toán trả cho

anh M1 24.934.117đ; Bà V trả cho anh M1 55.844.866đ và trả cho ông Q 16.736.784đ; bà Q1 trả cho ông Q số tiền 72.581.650đ.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ Luật dân sự.

9. Về chi phí thẩm định, chi phí định giá tài sản: Xác nhận ông P đã nộp chi phí thẩm định, định giá tài sản là 14.500.000đ.

Buộc ông Q, bà V, bà Q1, bà N mỗi người phải thanh toán trả cho ông P 2.900.000₫.

10. Về án phí: Ông Q, bà N, ông P, bà V, bà Q1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Miễn án phí phúc thẩm cho bà N.

Anh M1, chị C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 17/5/2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Hải Dương;
  • - TAND, Chi cục Thi hành án dân sự
  • thành huyện T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thanh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/DS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 47/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn P - Lê Thị N tranh chấp thừa kế tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger