Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.

Các hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Chí Lin.

Ông Lý Văn Hùng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 25 tháng 02 năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Số B, Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N và bà Thân Thị M; Vợ Nguyễn Thị Thanh L và có 03 con chung; Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2023/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 06 tháng 19 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 15 tháng 3 năm 2023, chưa thi hành xong án phí; Tiền sự: Không có; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 12 năm 2023 đến nay, bị cáo có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh L, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1994 tại Tiền Giang; Căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Âp L, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Đ; Chồng Nguyễn Văn D và có 03 con chung; Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2023/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01 tháng 6 năm 2023, chưa thi hành xong án phí; Tiền sự: Không có; Bị khởi tố cho tại ngoại điều tra đến nay, bị cáo có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Hoài P, sinh năm 1981.

Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Mai Văn N1, sinh năm 1969.

Nơi cư trú: Số E, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, xin vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

1. Ông Bùi Trọng N2, sinh năm 1988 – vắng mặt.

2. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1995 – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 15 tháng 12 năm 2023, do không có tiền tiêu xài nên bị cáo Nguyễn Văn D rủ vợ là bị cáo Nguyễn Thị Thanh L đi tìm tài sản của người khác để chiếm đoạt đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, được bị cáo L đồng ý. Bị cáo D chuẩn bị 01 ống điếu hình trụ chữ “L” bằng kim loại màu trắng dài 16,5cm, đầu chữ L dài 04cm (dùng mở khóa ốc 08mm hình lục giác), đường kính 10mm; 01 bộ mở khóa ốc chữ T bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, cạnh chữ T hình trụ dài 6,5cm có đầu mở ốc 08mm hình lục giác, đường kính 10mm; 02 đoản bằng kim loại hình trụ dài 7,8cm, một đầu hình lục giác, một đầu mài dẹt nhọn, màu đen cất vào túi quần rồi điều khiển xe môtô hiệu Honda, loại Dream, màu tím nho, biển kiểm soát 51Z7-5611 chở bị cáo L từ nhà trọ thuộc xã H, huyện Đ, tỉnh Long An đi đến các khu vực lân cận để tìm tài sản chiếm đoạt. Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày 15 tháng 12 năm 2023, khi bị cáo D điều khiển xe môtô đến đoạn đường K thuộc ấp X, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An thì nhìn thấy 01 xe môtô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 62P2-183.69 dựng dưới bờ ruộng bên đường không người trông coi nên bị cáo D dừng xe nói bị cáo L đứng chờ còn bị cáo D lén lút đi lại gần xe biển kiểm soát 62P2-183.69 dùng đoản bẻ ổ khóa xe, nổ máy nhưng không được nên bị cáo D dẫn bộ đến chỗ bị cáo L. Bị cáo D điều khiển xe môtô biển kiểm soát 51Z7-5611 rồi dùng chân đẩy xe môtô biển kiểm soát 62P2-183.69 do bị cáo L điều khiển chạy theo đường đá xanh bờ Kênh 4 về hướng xã H. Lúc này, bị hại Nguyễn Hoài P là chủ xe môtô biển kiểm soát 62P2-183.69 phát hiện đuổi theo, các bị cáo D và L bỏ chạy được khoảng 01km thì bị cáo L để xe môtô biển kiểm soát 62P2-183.69 lại trên đường rồi ngồi lên xe môtô biển kiêm soát 51Z7-5611 do bị cáo D điều khiển bỏ chạy ngược lại đường đá bờ Kênh D về đường tỉnh lộ 830 thì bị người dân và Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Long An truy đuổi bắt giữ quả tang cùng vật chứng giao cho cơ quan Công an xử lý.

Vật chứng tạm giữ gồm:

- 01 ống điếu hình trụ chữ “L” bằng kim loại màu trắng dài 16,5cm, đầu chữ L dài 04cm ( dùng mở khóa ốc 08mm hình lục giác), đường kính 10mm.

- 01 bộ mở khóa ốc chữ T bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, cạnh chữ T hình trụ dài 6,5cm có đầu mở ốc 08mm hình lục giác, đường kính 10mm.

- 02 đoản bằng kim loại hình trụ dài 7,8cm, một đầu hình lục giác, một đầu mài dẹt nhọn, màu đen.

- 01 xe môtô hiệu Honda, loại Dream, màu tím nho, biển kiểm soát 51Z7-5611, số khung: Không, số máy: LC150FMG01619731.

- 01 xe môtô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 62P2-183.69, số khung: RLHHC1200AY151369, số máy: HC12E2651393.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 147/KL-HĐĐGTS ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 xe môtô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 62P2-183.69, số khung: RLHHC1200AY151369, số máy: HC12E2651393 có trị giá 10.500.000đồng.

Đối với xe môtô hiệu Honda, loại Dream, màu tím nho, số khung: Không có, số máy: LC150FMG0161973, qua tra cứu thông tin không xác định được chủ sở hữu. Xe môtô trên D mua lại từ người đàn ông không xác định nhân thân, lai lịch vào tháng 10 năm 2023 với giá 1.000.000đồng.

Đối với biển kiểm soát 51Z7-5611 đứng tên chủ sở hữu Mai Văn N1, sinh năm 1969, nơi cư trú: Số E, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào tháng 02 năm 2007, ông N1 đã bán xe cho người đàn ông không xác định nhân thân, lai lịch với giá 3.000.000đồng nhưng không làm thủ tục sang tên.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKS-ĐH ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L gây ra; Đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D với mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, n khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L với mức hình phạt từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo D và L.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại sau khi nhận lại 01 xe môtô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 62P2-183.69, số khung: RLHHC1200AY151369, số máy: HC12E2651393 xong không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đề cập xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ ông Mai Văn N1 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đề cập xem xét.

Về tang vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp xong nên không đề cập xem xét.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe môtô hiệu Honda, loại Dream, màu tím nho, số khung: Không có, số máy: LC150FMG0161973.

Tịch thu tiêu hủy: 01 ống điếu hình trụ chữ “L” bằng kim loại màu trắng dài 16,5cm, đầu chữ L dài 04cm ( dùng mở khóa ốc 08mm hình lục giác), đường kính 10mm; 01 bộ mở khóa ốc chữ T bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, cạnh chữ T hình trụ dài 6,5cm có đầu mở ốc 08mm hình lục giác, đường kính 10mm; 02 đoản bằng kim loại hình trụ dài 7,8cm, một đầu hình lục giác, một đầu mài dẹt nhọn, màu đen; biển kiểm soát 51Z7-5611.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử, các quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử sơ thẩm là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.2] ] Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án xin vắng mặt; người làm chứng vắng mặt không lý do nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án, trước tòa các bị cáo khai nhận: Xuất phát từ việc muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không cần bỏ công sức ra lao động nên vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15 tháng 12 năm 2023, tại ấp X, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Nguyễn Văn D cùng vợ là bị cáo Nguyễn Thị Thanh L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 62P2-183.69 có trị giá 10.500.000đồng của bị hại Nguyễn Hoài P thì bị người dân và Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Long An phát hiện bắt quả tang.

Lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L trước Tòa phù hợp với với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15 tháng 12 năm 2023, phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, của người làm chứng, phù hợp với biên bản định giá tài sản ngày 18 tháng 12 năm 2023 và tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L với tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác - quyền này được pháp luật Hình sự bảo vệ nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự.

[3] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, nhưng cũng cần phân tích vai trò của từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt cho tương xứng với hành vi của từng bị cáo gây ra.

[3.1] Đối với bị cáo Nguyễn Văn D là người đề xuất, rủ rê bị cáo L cùng đi trộm cắp tài sản của người khác nhằm mục đích đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cần xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục - răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân xấu vì có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi áp dụng hình phạt. Xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo Nguyễn Văn D là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.2] Đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thanh L là đồng phạm với bị cáo D trong vai trò người người thực hành, sau khi nghe bị cáo D rủ đi trộm cắp tài sản của người khác lẽ ra bị cáo phải ngăn cản nhưng ngược lại bị cáo lại đồng tình và tham gia thực hiện hành vi một cách tích cực, bị cáo đứng cảnh giới và đã trực tiếp ngồi lên xe cầm lái để bị cáo D đẩy xe trộm cắp đi nhằm mục đích đem về bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cũng cần xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục - răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân xấu vì có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội khi đang mang thai. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi áp dụng hình phạt. Xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thanh L là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy đinh tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

[5.1] Bị hại sau khi nhận lại 01 xe môtô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 62P2-183.69, số khung: RLHHC1200AY151369, số máy: HC12E2651393 xong không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[5.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ ông Mai Văn N1 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[6] Về tang vật chứng:

[6.1] Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp xong nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[6.2] Đối với 01 xe môtô hiệu Honda, loại Dream, màu tím nho, số khung: Không có, số máy: LC150FMG0161973. Xét đây là xe không có giấy tờ hợp pháp và là xe của các bị cáo, sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6.3] Đối với 01 ống điếu hình trụ chữ “L” bằng kim loại màu trắng dài 16,5cm, đầu chữ L dài 04cm ( dùng mở khóa ốc 08mm hình lục giác), đường kính 10mm; 01 bộ mở khóa ốc chữ T bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, cạnh chữ T hình trụ dài 6,5cm có đầu mở ốc 08mm hình lục giác, đường kính 10mm; 02 đoản bằng kim loại hình trụ dài 7,8cm, một đầu hình lục giác, một đầu mài dẹt nhọn, màu đen; biển kiểm soát 51Z7-5611. Xét đây là tang vật và dụng cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 12 năm 2023.

Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn D 45 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 17 tháng 4 năm 2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s, n khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Về tang vật chứng:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe môtô hiệu Honda, loại Dream, màu tím nho, số khung: Không, số máy: LC150FMG0161973.

Tịch thu tiêu hủy: 01 ống điếu hình trụ chữ “L” bằng kim loại màu trắng dài 16,5cm, đầu chữ L dài 04cm ( dùng mở khóa ốc 08mm hình lục giác), đường kính 10mm; 01 bộ mở khóa ốc chữ T bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, cạnh chữ T hình trụ dài 6,5cm có đầu mở ốc 08mm hình lục giác, đường kính 10mm; 02 đoản bằng kim loại hình trụ dài 7,8cm, một đầu hình lục giác, một đầu mài dẹt nhọn, màu đen; biển kiểm soát 51Z7-5611.

Tang vật trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quan lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 65-23/02/2024 ngày 23 tháng 02 năm 2024.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án; Buộc các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị Thanh L mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án này là sơ thẩm các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • -Tòa án nhân dân tỉnh Long An;
  • -Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An;
  • -Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa;
  • -Công an huyện Đức Hòa;
  • -Chi cục Thi hành án huyện Đức Hòa;
  • -Các bị cáo;
  • -Bị hại
  • -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Đức Hòa;
  • -Sở tư pháp tỉnh Long An;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trom
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger