|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày: 17-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Dũng;
- Bà Đỗ Thị A.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/HSST-QĐ ngày 27/3/2024 đối với bị cáo:
Lê Vũ Minh H (tên gọi khác: N), sinh ngày: 15/9/2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B Đ, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số B Đ, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe máy; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Lê Văn Bé T và bà: Vũ Thị Phương L; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị hại:
- Bà Trần Thụy Kim N1, sinh năm 1999 (vắng mặt)
- Ông Đỗ Minh N2, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Thường trú: 126 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: Căn hộ số G P1B P, chung cư T, số 547-549 T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thường trú: 232/1 Ngô Gia T1, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: Căn hộ số G P1B P, chung cư T, số 547-549 T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 2000 (vắng mặt)
- Ông Trương Đức M, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Thường trú: Số C G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: Số A L, ấp C, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thường trú: Khu phố T, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Số A V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 23 giờ 30 phút ngày 08/7/2023 tại trước nhà số H S, Phường A, Quận A, Tổ tuần tra 363 Công an Quận 10 phát hiện Lê Vũ Minh H, đang điều khiển xe môtô biển số: 59X3-843.64 chở Nguyễn Thanh V, có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an P1, Quận A để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra điện thoại di động của H, tổ tuần tra phát hiện trong ứng dụng tin nhắn Messenger (Facebook) của H tên “Nhí L1” có nội dung trao đổi mua bán trái phép chất ma túy với tài khoản tên “Kim N1”. Tổ tuần tra đã bàn giao H và V cùng phương tiện cho Công an P1, Quận A kết hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q lập hồ sơ làm rõ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Lê Vũ Minh H khai: H quen biết với người tên “Kim Ngân” được khoảng 01 năm thông qua chồng cũ của N1 tên P. H nói với P là H có bán loại ma túy tên gọi là CHALI sau đó P đã nói cho N1 biết. Khi N1 liên hệ với H để mua ma túy CHALI thì H đã tìm mua CHALI giả (vỏ ngoài là vỏ gói CHALI nhưng bột bên trong là chất kích dục) bán cho N1, mục đích để kiếm lời. Để N1 không nghi ngờ, H nói với N1 đây là ma túy CHALI phiên bản mới có vị khác với loại ma túy phiên bản cũ. Khi N1 phàn nàn sử dụng ma túy CHALI của H không chất lượng thì H giải thích là N1 sử dụng sai cách. H đã bán CHALI giả cho N1 được 03 lần, cụ thể như sau:
- Lần đầu cách ngày bị bắt khoảng 01 năm, N1 hỏi mua 01 gói ma túy CHALI nhưng H bán cho N1 01 gói CHALI giả với giá 2.000.000 đồng (không nhớ địa điểm giao dịch). Ngân thanh toán cho H bằng tiền mặt. Nguồn gốc CHALI giả do H nhờ V liên hệ với người tên B (N3), đặt mua với giá 1.500.000 đồng/gói và H đến hẻm B đường T, quận T để lấy sau đó thanh toán tiền mặt cho B.
- Lần thứ hai cách ngày bị bắt khoảng nửa năm, N1 tiếp tục hỏi mua 01 gói ma túy CHALI nhưng H đã bán cho N1 01 gói CHALI giả với giá 2.000.000 đồng (không nhớ địa điểm giao dịch). Ngân thanh toán cho H bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của H số 03101016612290 ở ngân hàng M2. Nguồn gốc CHALI giả do H trực tiếp liên hệ với tên B (N3) để đặt mua với giá 1.500.000 đồng/gói và đến hẻm B đường T, quận T để lấy sau đó thanh toán tiền mặt cho B.
- Lần thứ ba, lúc khoảng 22 giờ 20 phút ngày 08/7/2023, N1 liên lạc với H qua ứng dụng Messenger hỏi mua 03 gói ma túy CHALI và hẹn giao tại quán “The Gang”, số A C, Phường A, Quận A. H đồng ý bán cho N1 với giá 6.000.000 đồng. Sau đó, H gọi điện thoại cho V, nhờ V liên hệ với B (N3) để mua 03 gói CHALI giả, hẹn giao ở hẻm B, đường T, quận T. Sau đó, H điều khiển xe môtô SH biển số: 59X3-843.64 đến điểm hẹn thì có một người đàn ông (không rõ lai lịch) ra gặp đưa cho H một vỏ bao thuốc lá màu vàng bên trong có 03 gói CHALI giả. H cất bao thuốc lá nêu trên vào túi quần rồi tiếp tục điều khiển xe đi đến nơi làm việc của V, ở quán L2, số G T, Quận C, chở V đến quận T để nhậu với nhóm bạn đã hẹn từ trước. Trên đường đi H nói với V ghé Quận A có công việc. Khi đến điểm hẹn với N1, tại quán “T”, H dừng xe ở đầu hẻm đối diện quán rồi gọi messenger cho N1. Nhìn thấy N1 đi bộ từ trong quán ra, H xuống xe gặp N1 đưa cho N1 vỏ bao thuốc lá bên trong có 03 gói CHALI giả, lúc này V ngồi trên xe, cách nơi H và N1 đứng khoảng 05m. Sau khi giao CHALI giả cho N1 xong, H chở V tiếp tục lưu thông hướng về quận T, khi đến trước số nhà H S, Phường A, Quận A thì bị tổ tuần tra 363 Công an Q kiểm tra mời về làm việc.
Nguyễn Thanh V khai biết CHALI là một dạng ma túy và CHALI mà B bán là giả (chất kích dục) và có mua lại CHAIL giả của B để bán kiếm lời. Ngày 08/7/2023, sau khi gọi điện cho B hỏi mua CHALI giả dùm H, V biết H nhờ mua CHALI giả của tên B là để bán cho người khác nhưng không biết H bán số hàng giả đó cho N1, V không được lợi gì từ việc liên hệ hỏi mua CHALI giả dùm H. V và H đều biết CHALI mà B bán là giả. H không trực tiếp liên hệ B mua CHALI giả là vì đang có xích mích với B nên đã nhờ V. H không nói cho V biết việc đến quán “The Gang” là để bán số CHALI giả cho N1.
Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xác định đối tượng “Kim Ngân” đã mua CHALI của H hiện đang cư trú tại căn hộ: 18.07 Block P chung cư P, số E T, Phường D Quận H, TP .. Lúc 10 giờ 10 phút ngày 09/7/2023, Đội Cảnh sát điều tra Tội phạm về ma túy Công an Q phối hợp Công an P2, Quận H tiến hành kiểm tra hành chính, khám xét khẩn cấp căn hộ: 18.07 Block P chung cư P, số E T, Phường D Quận H, TP . phát hiện: Trần Thụy Kim N1, sinh năm: 1999; Hộ khẩu thường trú: A N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và Đỗ Minh N2, sinh năm: 1992; Hộ khẩu thường trú: 2 N, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, đang lưu trú. Thu giữ của N1, N: 01 (một) gói nylon có in chữ “CHALI" bên trong có chứa chất bột màu vàng, 01 gói nylon chứa mảnh vụn màu xanh. N1, N2 khai nhận chất bột màu vàng là ma túy tổng hợp tên CHALI đã mua của H; các mãnh vụn màu xanh là số ma túy mà D đã mua để cùng các đối tượng sử dụng tại căn hộ nhưng chưa sử dụng hết nên mời cả 02 về Cơ quan Công an làm việc.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định chất bột màu vàng chứa trong gói nylon in chữ “CHALI” và các mảnh vụn màu xanh chứa trong 01 gói nylon, đã thu giữ của N2 và N1. Tại kết luận giám định số 7546/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phòng K2 Công an T3 kết luận: “Bột màu vàng được ký hiệu mẫu m cần giám định có khối lượng 2,0786g, không tìm thấy ma túy”; Tại kết luận giám định số 7545/KL-KTHS ngày ngày 17/7/2023 của Phòng K2 Công an T3 kết luận: “Cá mẫu vụn màu xanh được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,5217g, loại Methamphetamine”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Trần Thụy Kim N1 và Đỗ Minh N2 khai: Tối ngày 08/7/2023, N1 và N2 cùng 05 người bạn gồm K, D, Đ, J, Z đi ăn tại quán "The Gang” A C, Phường A, Quận A mừng sinh nhật của N. Trong quá trình ăn uống, cả nhóm bàn bạc, thống nhất góp tiền mua ma túy để sử dụng. Do N1 nói biết chỗ mua ma túy nên cả nhóm đồng ý góp tiền lại cho N2 và N1 để N1 mua 03 gói ma túy tổng hợp CHALI. Sau đó N1 dùng mesenger gọi điện cho N (Lê Vũ Minh H) để mua ma túy. Sau khi nhận 03 gói CHALI từ H, N1 để trên bàn sau đó cùng cả nhóm sử dụng hết 02 gói ma túy tại quán T4 (bằng cách pha với nước ngọt), còn lại 01 (một) gói N1 cất vào túi xách. Khoảng hơn 02 giờ ngày 09/7/2023 tất cả 07 người cùng trở về căn hộ G P1B P, chung cư T là căn hộ của N2. Sau đó N1 kêu N2 chuyển khoản trả tiền mua ma túy cho H, N2 đưa điện thoại của N2 cho N1 và đọc mật khẩu để N1 chuyển khoản trả cho H số tiền mua 03 gói ma túy CHALI là 6.000.000 đồng. Sau đó, trong lúc nói chuyện thì N2, N1, D, Đ, J, Z tiếp tục rủ nhau sử dụng ma túy, do chê ma túy CHALI mà N1 mua không chất lượng, không “phê” nên D nói để D ứng tiền trước mua ma túy khác về sử dụng còn gói CHALI để N1 liên hệ H trả lại. Sau đó D gọi điện cho một đối tượng không rõ lai lịch để mua ma túy và đem lên căn hộ: 07-18 P1B P, chung cư T, số 547-549 T, Phường D, Quận H cùng nhau sử dụng. Sử dụng ma túy xong các đối tượng đi ngủ, N2 và N1 ngủ ở một phòng, 05 người còn lại ở một phòng. Đến khoảng 09 giờ hơn ngày 09/7/2023 thì D, K, Đ, J, Z về, còn N2 và N1 ngủ đến 11 giờ cùng ngày thì bị Công an kiểm tra hành chính, tạm giữ gói ma túy CHALI mà N1 đem từ quán T4 về.
Trần Thụy Kim N1 khai ngoài lần nêu trên, N1 đã mua ma túy CHALI của tên H 02 lần để sử dụng cùng bạn bè, mỗi lần mua 01 gói giá 2.000.000đồng nhưng không nhớ rõ thời gian, địa điểm cụ thể, trong đó có 01 lần Ngân thanh toán cho H qua chuyển khoản ngân hàng. Mỗi lần có nhu cầu sử dụng ma túy, N1 liên hệ với H qua messenger thảo thuận số tiền mau ma tuý, điểm giao ma tuý. Sau đó, H sẽ đến giao ma tuý như thoả thuận. hỏi mua sau đó H giao ma túy cho N1 tại địa điểm đã hẹn trước. N1 không biết các gói CHALI H bán cho N1 là ma túy giả. Khi N1 phàn nàn sử dụng CHALI của H không chất lượng thì H giải thích là do N1 sử dụng sai cách và đây là loại ma túy CHALI phiên bản mới có vị khác với loại ma túy phiên bản cũ nên N1 không nghi ngờ.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Trần Thụy Kim N1 và Đỗ Minh N2 “Dương tính” với chất ma túy.
Qua truy xét, xác định đối tượng D và K có lai lịch như sau: Nguyễn Đỗ Kỳ D1, sinh năm: 1996; Hộ khẩu thường trú: 8 N, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Đăng K1, sinh năm: 1997; Hộ khẩu thường trú: A T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, D1 và K1 không thừa nhận đã bàn bạc cùng những đối tượng khác góp tiền mua ma túy CHALI, không đưa tiền cho N2 để mua ma túy CHALI sử dụng tại quán T4. Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Đỗ Kỳ D1 “Dương tính” với chất ma túy, của Nguyễn Đăng K1 “Âm tính” với chất ma túy.
Xác định đối tượng tên B đã bán CHALI giả cho bị can H, tên thật là Nguyễn Trường N4, cư ngụ: 221/3/10 Đ, Phường F, quận T. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Trường N4 khai: Đã bán ma túy CHALI giả (vỏ gói ma túy CHALI nhưng chất bột bên trong là chất kích dục) cho các đối tượng tìm mua ma túy CHALI được khoảng 01 năm. Nguồn gốc CHALI giả do N4 mua trên mạng xã hội với giá 800.000 đồng/gói, sau đó bán lại với giá 2.000.000 đồng/gói (rẻ hơn so với giá bán ma túy CHALI thật khoảng 1.000.000 đồng), thu lợi 1.200.000 đồng/gói. Để bán được ma túy CHALI, N4 đăng lên mạng xã hội với nội dung là bán ma túy CHALI với giá 2.000.000 đồng/gói, người mua không biết đó là hàng giả, thấy rẻ thì mua. Mặt khác N4 chỉ giao dịch trực tiếp, nhận tiền mặt, bán xong thì chặn, xóa tài khoản của người mua. N4 có nói với V và H biết việc mình bán CHALI giả. Sau đó V ngỏ ý hỏi mua để bán lại kiếm lời thì N4 bán cho V với giá 1.500.000 đồng/gói, V bán như thế nào, giá cả, cách thức bán, bán cho ai thì N4 không biết. Riêng H, N4 chưa bán CHALI giả lần nào vì N4 có mâu thuẫn với H. Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 08/7/2023, N4 nhận được điện thoại của Nguyễn Thanh V gọi tới hỏi mua 03 gói CHALI đỏ, hẹn Nam giao tại đầu hẻm B đường Trương Công Định cho bạn của V, số tiền 03 gói CHALI giả là 4.500.000 đồng sẽ thanh toán sau. N4 nhờ một người tên T2 (không rõ lai lịch) đưa 03 gói CHALI giả ra đầu hẻm giao như đã thỏa thuận với V. N4 không biết người đến nhận CHALI giả là H.
Đỗ Minh N2, Trần Thụy Kim N1 và Nguyễn Đỗ Kỳ D1 có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại căn hộ S P P, chung cư T T, Phường D, Quận H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển toàn bộ hồ sơ và các đối tượng Đỗ Minh N2, Trần Thụy Kim N1, Nguyễn Đỗ Kỳ D1, Nguyễn Đăng K1 cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 để điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã cho bị can H và N1 đối chất, kết quả phù hợp với lời khai nhận của bị can H.
Vật chứng, tài sản thu giữ:
- 01 ĐTDĐ hiệu Samsung có số thuê bao 0909983200 - là tài sản bị can H sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 ĐTDĐ hiệu Iphone có số thuê bao 0869792703 - là tài sản V sử dụng liên lạc với H và N4 để mua CHALY giả.
- Số tiền 6.000.000 đồng - do bị can H phạm tội mà có và nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
- 01 xe môtô SH biển số: 59X3-843.64, số máy: JF95E0170102, số khung: RLHJF9507NY155024. Qua giám định số máy, số khung không đổi. Qua xác minh xe do bà Lê Thị Thanh M1 đứng tên đăng ký sở hữu. Ngày 29/9/2022 bà Mai s đó ủy quyền sở hữu cho anh Võ N5. Ngày 15/11/2022 anh Võ N5 ủy quyền sở hữu cho anh Trương Đức M. Khoảng 22 giờ ngày 08/7/2023, anh M cho Lê Vũ Minh H mượn xe để đi đón Nguyễn Thanh V. Anh M không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe môtô SH biển số: 59X3-843.64 cho anh Trương Đức M.
Tại bản Cáo trạng số 124/CT-VKSQ10 ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố Lê Vũ Minh H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả, ông nội bị cáo từng được huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, bị cáo hiện đang điều trị bệnh thoái hóa cột sống tại nhà) cũng như tình tiết tăng nặng (phạm tội 02 lần trở lên) của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Vũ Minh H từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng nhưng cho hưởng án treo, không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Vũ Minh H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2]. Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Vũ Minh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận. Với mục đích kiếm tiền từ việc lừa bán hàng cho người khác, Lê Vũ Minh H đã sử dụng thủ đoạn gian dối bằng cách mua ma túy giả (chất kích dục) bán cho bị hại. Tổng giá trị mà H đã chiếm đoạt sau 03 lần bán ma túy giả cho N1 là 10.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3]. Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nên cần đưa ra xét xử bằng luật hình.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại, ông nội bị cáo từng được huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, bị cáo hiện đang điều trị bệnh tại nhà. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do vậy căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách và bị cáo phải thực hiện đúng nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Ngoài ra xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Đối với Nguyễn Thanh V có hành vi mua dùm CHALY giả cho H nhưng không biết H bán cho ai, giá như thế nào và không thu lợi nên hành vi của V không có vai trò đồng phạm với Lê Vũ Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
[5] Đối với Nguyễn Trường N4 không biết V hỏi mua CHALY giả dùm H, sau đó H đem bán cho Trần Thụy Kim N1. Giữa các đối tượng N4, V, H đều biết các gói CHALY là giả, tuy nhiên các đối tượng không có sự trao đổi, bàn bạc cách thức về việc bán CHALY giả nên hành vi của N4 không có vai trò đồng phạm với Lê Vũ Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
[6] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh Đỗ Minh N2 số tiền 6.000.000 đồng là số tiền anh N2 yêu cầu nên chấp nhận.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số thuê bao 0909983200 - là tài sản H sử dụng vào việc phạm tội
- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0869792703 - là tài sản của V.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;
Xử phạt: Lê Vũ Minh H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự).
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu S có số thuê bao 0909983200.
- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0869792703 cho Nguyễn Thanh V.
- Buộc Lê Vũ Minh H bồi thường số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng cho ông Đỗ Minh N2.
Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và căn cứ điểm a, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê Vũ Minh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Hiếu Hạnh |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Vũ Minh Hải bị VKSND Q10 truy tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
