TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 47/2024/HNGĐ. Ngày 16/09/2024. “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Ngọc.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Nguyễn Thế Hằng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên Tòa: Ông Hồ Quốc Nam.
Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên toà: Ông Dương Minh Xuân, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16/09/2024, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 129/2024/TLST – HNGĐ, ngày 09/04/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp vê nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40a/2024/HNGĐ – ST, ngày 06/08/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 39/2024/QÐST – HNGĐ ngày 21/08/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trân Thị Thùy T, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Đình D, sinh 2000. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, đơn thay đổi nội dung khởi kiện nguyên đơn bà Trần Thị Thùy T trình bày:
*Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Đình D là vợ chồng, chúng tôi chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K vào ngày 16/6/2021.
Sau khi về chung sống vợ chồng tôi sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông D không không quan tâm đến gia đình, thường xuyên đi làm xa, mặc dù tôi đã động viên yêu cầu đoàn tụ, nhưng ông D vẫn chứng nào tật đó không thể thay đổi được. Vào năm 2022 tôi và ông D đã ly thân từ thời gian đó đến nay, trong thời gian ly thân chúng tôi không còn liên lạc gì với nhau. Nay xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài cuộc sống chung nên tôi đề nghị tòa án nhân dân huyện Ea Kar giải quyết cho tôi ly hôn với ông Nguyễn Đình D.
Về con chung: Trong thời gian chung sống tôi và ông D có 01 con chung là Nguyễn Trần Khánh H, sinh ngày 16/01/2022. Tôi có nguyện vọng chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi thành niên. Vì hiện tại con chung đang sống với tôi.
Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung tôi không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Đình D, sau khi thụ lý và quá trình giải quyết Tòa án triệu tập đến Tòa làm việc để giải quyết vụ án nhưng ông D không chấp hành hợp tác để giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông D vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Do đó, vụ án không thể tiến hành hòa giải được. Căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ngày 21 tháng 08 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Ea Kar tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án, bị đơn ông D vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 1 Điều 227, Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự. HĐXX quyết định hoãn phiên toà.
Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông D văng mặt không có lý do.
Phát biểu quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý, đến khi xét xử, Thẩm phán tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, như lập hồ sơ vụ án, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, tống đạt văn bản tố tụng và quyết định của Tòa án cho đương sự, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định, thành phần Hội đồng xét xử và trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định của pháp luật. Còn đối với bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án chưa chấp hành và vắng mặt không có lý do.
Về nội dung: Căn cứ Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thùy T, cho bà Trần Thị Thùy T được ly hôn với ông Nguyễn Đình D.
Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Trần Khánh H, sinh ngày 16/01/2022 cho bà Trần Thị Thùy T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về án phí nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên HĐXX xét thấy:
[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị Thùy T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar giải quyết việc ly hôn với ông Nguyễn Đình D. Bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Đình D trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa lần thứ 2 đều vắng mặt không có lý do; Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
2
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trần Thị Thùy T và ông Nguyễn Đình D đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 16/6/2021 trên cơ sở tự nguyện, xét thấy đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống không hạnh phúc vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông D đi làm xa nhà, không quan tâm đến vợ con, nên dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng xảy ra, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, mặc dù hai vợ chồng cố gắng động viên đoàn tụ nhưng không thành, nên dẫn đến hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, trong thời gian ly thân không còn liên lạc quan tâm đến nhau.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt công khai các văn bản tố tụng để ông D thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bản thân ông D biết nhưng đều từ chối và vắng mặt không tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành và không có lý do. Vì vậy phải chịu hậu quả về việc vắng mặt của mình.
Qua phân tích nhận định trên xác định nguyên nhân mâu thuẫn mà bà T đã trình bày là có căn cứ, phù hợp với biên bản xác minh tại chính quyền địa phương và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy hiện nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà T. Cho bà T được ly hôn với ông D là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng bà T và ông D có 01 người con chung là cháu Nguyễn Trần Khánh H, sinh ngày 16/01/2022. Hiện nay cháu H còn nhỏ cần có sự chăm sóc của người mẹ. Bà T cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Xét thấy việc giao con chung cho bà T chăm sóc là phù hợp nên HĐXX cần chấp nhận.
Về trợ cấp tiền nuôi dưỡng con chung: Không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 203, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thùy T.
* Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thùy T được ly hôn với ông Nguyễn Đình D.
3
* Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Trần Khánh H, sinh ngày 16/01/2022 cho bà Trần Thị Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.
Về trợ cấp nuôi dưỡng con chung: Không yêu cầu nên không xem xét để giải quyết.
Ông Nguyễn Đình D được quyền đi lại thăm, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Đình D không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung và tài sản cho người khác vay: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Trần Thị Thùy T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2023/0000302 ngày 08/04/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Ngọc |
4
Bản án số 47/2024/HNGĐ ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn tranh chấp về nuôi con giữa bà T và ông D
