Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 16-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đoàn Hồng Hải
  2. Bà Trần Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hải N, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2004, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: 1 N, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tự do; học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 và bà: Trần Thị Phương L, sinh năm 1970; có 01 người chị, sinh năm 1997; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: G H, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Hải Lan T, sinh năm 1997; nơi cư trú: 1 N, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 35 phút ngày 29/11/2023, Nguyễn Hải N một mình điều khiển xe mô tô biển số 59H1 – 526.95 đến trước cửa hàng điện thoại di động tên "Trung tâm Iphone", số A H, Phường D, Quận E do chị Phạm Thị L1 làm chủ để bán lại điện thoại di động. Khi đến cửa hàng, N đưa cho chị L1 một điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus và đề nghị bán lại. Sau khi xem điện thoại chị L1 nói chỉ thu mua lại với giá 500.000 đồng thì N đồng ý. Lúc này, N đề nghị chị L1 cho xem một điện thoại di động hiệu Iphone 13 thì chị L1 đồng ý và đưa cho N một điện thoại di động hiệu Iphone 13 và báo giá là 13.000.000 đồng. Trong lúc chị L1 đang cho khách khác xem điện thoại thì N này sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 13 128GB của chị L1. Lợi dụng lúc chị L1 không để ý, N nhanh chóng cầm điện thoại hiệu Iphone 13 128GB đem ra cất vào trong cốp xe mô tô biển số 59H1 – 526.95 rồi nhanh chóng điều khiển xe bỏ chạy tẩu thoát. Chị L1 truy hô ngay nhưng không truy đuổi kịp. Sau đó, chị L1 đến trụ sở Công an P, Quận E trình báo. Sau khi chiếm đoạt chiếc điện thoại trên của chị L1, N mang chiếc điện thoại trên về nhà cất giấu cho đến khi bị bắt giữ. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thụ lý giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hải N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của N là phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) USB màu đen dung lượng 16GB; 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13, dung lượng 128GB, màu xanh lá, số IMEI 1: 357688115640089, số IMEI 2: 357688115613706; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng, số IMEI: 353332077635639; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần ngắn màu đen; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen xám, biển số 59H1-526.95, số khung: RLCS1FC40E-Y025384, số máy: 1FC4-025394.

Tại Kết luận định giá số 03/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13, dung lượng 128GB, màu xanh lá, số IMEI 1: 357688115640089, số IMEI 2: 357688115613706, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 85% có giá 13.500.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị L1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 35/CT-VKS-Q5 ngày 07/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hải N về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Hải N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên; bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Hải Lan T trình bày bà là chủ sở hữu chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen xám, biển số 59H1-526.95, số khung: RLCS1FC40E-Y025384, số máy: 1FC4-025394, do bà sống cùng gia đình nên thường để xe ở nhà để cả nhà dùng chung khi có việc; ngày xảy ra sự việc bà đi làm, N lấy xe đi bà không biết và cũng không biết N dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị được nhận lại chiếc xe.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hải N về tội “Cướp giật tài sản”; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hải N hình phạt tù giam với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về xử lý vật chứng: Lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) USB màu đen dung lượng 16GB; trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng, số IMEI: 353332077635639; tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, 01 (một) quần ngắn màu đen, 01 (một) áo khoác dài tay màu đen, 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen; trả lại cho bà T 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen xám, biển số 59H1-526.95, số khung: RLCS1FC40E-Y025384, số máy: 1FC4-025394.

Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm quay về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Đối với sự vắng mặt của bị hại là bà Phạm Thị L1 tại phiên tòa, xét thấy: Tại giai đoạn điều tra, bà L1 đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bà L1 đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì về dân sự trong vụ án do đó sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hải N tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Hải N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người biết việc, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 15 giờ 35 phút ngày 29/11/2023, tại cửa hàng điện thoại di động tên “Trung tâm Iphone”, số A H, Phường D, Quận E, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, quản lý tài sản, bị cáo Nguyễn Hải N đã có hành vi công khai nhanh chóng cướp giật 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13, dung lượng 128GB, màu xanh lá, số IMEI 1: 357688115640089, số IMEI 2: 357688115613706 của bà Phạm Thị L1. Tại Kết luận định giá số 03/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự -Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13, dung lượng 128GB, màu xanh lá, số IMEI 1: 357688115640089, số IMEI 2: 357688115613706, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 85% có giá 13.500.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Hải N đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

[3] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để biết được hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

[4.1] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội lần đầu, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, cần xem là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích trên, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4.3] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo phạm tội chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, nhận thấy bị cáo chưa thu lợi bất chính, không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) USB màu đen dung lượng 16GB, là dữ liệu điện tử chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13, dung lượng 128GB, màu xanh lá, số IMEI 1: 357688115640089, số IMEI 2: 357688115613706 do bị cáo chiếm đoạt của bà Phạm Thị L1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho bị hại bà Phạm Thị L1 là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng, số IMEI: 353332077635639. Xét thấy chiếc điện thoại nêu trên là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần ngắn màu đen; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen là những vật dụng bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen xám, biển số 59H1-526.95, số khung: RLCS1FC40E-Y025384, số máy: 1FC4-025394, là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Theo kết quả xác minh chủ sở hữu chiếc xe, chiếc xe do bà Nguyễn Hải Lan T, là chị ruột của bị cáo đứng tên sở hữu. Xét thấy, bị cáo đã tự ý lấy xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội, bà T không biết và không liên quan đến việc bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên cần trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Hải Lan T theo khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do không có yêu cầu.

[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như vấn đề xử lý vật chứng là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 171; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

    Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 11 năm 2023.

  2. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần ngắn màu đen; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen;
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hải N 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng, số IMEI: 353332077635639;
    • - Trả lại cho bà Nguyễn Hải Lan T 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen xám, biển số 59H1-526.95, số khung: RLCS1FC40E-Y025384, số máy: 1FC4-025394;
    • - Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) USB màu đen dung lượng 16GB.

    (Tình trạng giao nhận các vật chứng nêu trên như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo Nguyễn Hải N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 – Công an TPHCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Linh Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hải N-Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger