Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 16-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Hùng.

2. Ông Nguyễn Danh Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với:

1. Bị cáo: DƯƠNG VĂN MINH - Sinh ngày: 11-11-1985 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Không xác định được bố đẻ; Con bà: Dương Thị M – Sinh năm: 1943; Vợ, con: Không.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Bị cáo Dương Văn M1 bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Dương Văn M1 phải bồi thường cho bị hại bà Nguyễn Thị L số tiền 1.435.650đ; Về án phí: Bị cáo Dương Văn M1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự có giá ngạch theo Bản án số: 41/2020/HS-ST ngày 07-5-2020 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Ngày 26-8-2020, bị cáo Dương Văn M1 đã chấp hành xong hình phạt chính, án phí; Bị cáo M1 chưa chấp hành xong phần bồi thường trách nhiệm dân sự.

Nhân thân: Bị cáo Dương Văn M1 bị xử phạt tiền số tiền 350.000đ về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 140/QĐ-XPVPHC ngày 19-4-2021 của Trưởng Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định.

Bị cáo Dương Văn M1 bị bắt tạm giam từ ngày 27-12-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

2. Bị cáo: NGUYỄN MẠNH NGỌC - Sinh ngày: 13-6-1967 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 6/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Đăng C – Sinh năm: 1943; Con bà: Nguyễn Thị T – Sinh năm: 1941; Vợ: Nguyễn Thị H – Sinh năm: 1968; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 1996;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Bị cáo Nguyễn Mạnh N bị xử phạt 39 tháng tù về tội “Cướp tài sản công dân” theo Bản án số: 22/1998/HSST ngày 06-5-1998 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.

- Bị cáo Nguyễn Mạnh N bị xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số: 151/2008/HSST ngày 17-12-2008 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.

Bị cáo Nguyễn Mạnh N bị bắt tạm giam từ ngày 27-12-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

3. Bị cáo: NGUYỄN VĂN CHÍNH - Sinh ngày: 05-02-1991 tại xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Cao Lan; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Văn L1 – Sinh năm: 1954; Con bà: Phan Thị C1 – Sinh năm: 1954; Vợ, con: Không.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Bị cáo Nguyễn Văn C2 bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số: 155/2021/HS-ST ngày 24-12-2021 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.

Nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn C2 bị xử phạt tiền số tiền 2.500.000₫ về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 251/QĐ-XPVPHC ngày 04-8-2020 của Trưởng Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định.

Bị cáo Nguyễn Văn C2 bị bắt tạm giam từ ngày 27-12-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Lăng Văn C3 – Sinh năm: 1982; Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 25-12-2023, bị cáo Dương Văn M1 một mình điều khiển xe mô tô biển số 88H6-3394 (Xe của bà Dương Thị M) đến nhà bị cáo Nguyễn Mạnh N cùng là người nghiện ma tuý. Bị cáo N nói với bị cáo M1: “Em biết chỗ nào bán Heroine không? Đi mua cho anh ít, về anh cho dùng cùng”; bị cáo M1 đồng ý nói: “Vâng, anh đưa tiền đây em đi mua cho”. Bị cáo N đưa cho bị cáo M1 1.100.000 đồng. Bị cáo M1 một mình điều khiển xe mô tô đi đến khu vực cầu T thuộc xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 1.100.000 đồng được 03 gói ma tuý (loại Heroine) bên ngoài gói bằng giấy bạc màu trắng. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo M1 đem 03 gói ma tuý về đưa cho bị cáo N. Bị cáo Ngọc cất 02 gói ma tuý vào túi áo khoác đang mặc và đưa lại cho bị cáo M1 01 gói ma tuý. Bị cáo M1 cầm 01 gói ma tuý (bị cáo N cho) đi đến khu vực đồi bạch đàn lấy ra một ít để sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Số ma tuý còn lại, bị cáo Minh g lại cất giấu trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà.

Khoảng 11 giờ ngày 26-12-2023, bị cáo Nguyễn Văn C2 một mình đi bộ đến nhà bạn là anh Lăng Văn C3 hỏi mượn xe mô tô và điện thoại có lắp sim số 0968.129.xxx của anh C3 đi có việc, anh C3 đồng ý. Sau đó, bị cáo C2 sử dụng điện thoại của anh C3 gọi đến số điện thoại 0335.871.xxx của bị cáo N. Bị cáo C2 nói: “Em Ngao đây, anh còn H1 không để cho em năm trăm”. Bị cáo N biết bị cáo C2 cũng là người nghiện ma tuý và bị cáo M1 biết chỗ mua ma tuý nên nói: “Anh không có, mày điện cho thằng M1 ấy”. Sau đó, bị cáo C2 tiếp tục sử dụng số điện thoại 0968.129.xxx gọi đến số điện thoại 0349.566.xxx của bị cáo M1 để hỏi mua ma tuý. Bị cáo C2 nói: “Anh còn hàng không? Bán cho em ít”; bị cáo M1 hỏi: “Bao nhiêu?”; bị cáo C2 nói: “Bán cho em năm trăm”. Do bị cáo M1 còn ít ma tuý bị cáo N cho ngày 25-12-2023 nên đồng ý bán và hẹn bị cáo C2 đến Nhà văn hoá thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang để trao đổi mua bán ma túy. Khoảng 12 giờ cùng ngày, bị cáo C2 một mình điều khiển xe mô tô (mượn của anh C3) đến gặp bị cáo M1 tại đoạn đường N thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo C2 đưa cho bị cáo M1 500.000 đồng. Bị cáo M1 đưa cho bị cáo C2 01 gói ma tuý gói bằng giấy bạc màu trắng. Bị cáo C2 cầm gói ma tuý đi đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn Đ, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang sử dụng hết bằng hình thức tiêm chích trực tiếp vào cơ thể, rồi đi về trả xe mô tô và điện thoại cho anh C3.

Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 27-12-2023, bị cáo C2 tiếp tục đến nhà anh C3 hỏi mượn xe mô tô và điện thoại. Anh C3 không đồng ý và nói tí phải đi S có việc. Sau đó, bị cáo C2 hỏi mượn điện thoại của anh C3 để gọi 01 cuộc, anh C3 đồng ý. Bị cáo C2 cầm điện thoại của anh C3 ra phía sau nhà gọi cho bị cáo N. Bị cáo C2 nói: “Còn Heroine không bán em năm trăm”; bị cáo N nói: “Anh không có, gọi cho thằng Ml”. Bị cáo C2 tiếp tục gọi đến cho bị cáo M1. Bị cáo C2 nói: “Còn không để cho em năm trăm”; bị cáo M1 đồng ý nói: “Còn, ra chỗ nhà văn hoá hôm trước đi”. Sau đó, bị cáo M1 gọi điện cho bị cáo N hỏi: “Anh có ở nhà không? Còn H1 không để lại cho em một gói năm trăm”; bị cáo N đồng ý nói: “Có”. Bị cáo M1 một mình điều khiển xe mô tô đến nhà bị cáo N. Bị cáo N cầm 01 gói ma tuý gói bằng giấy bạc màu trắng đưa cho bị cáo M1 và nói: “Gói này năm trăm nhé”; bị cáo M1 cầm gói ma tuý và nói: “Tối về em trả tiền anh”. Bị cáo C2 đi nhờ xe mô tô cùng anh C3 đến khu vực thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thì xuống xe đi bộ một mình đến Nhà văn hóa thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang để trao đổi, mua bán ma tuý với bị cáo M1. Bị cáo C2 đưa cho bị cáo M1 500.000 đồng, bị cáo M1 đưa cho bị cáo C2 01 gói ma tuý gói bằng giấy bạc, màu trắng. Sau khi mua được gói ma tuý, bị cáo C2 tiếp tục đi đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn Đ, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang để sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang phát hiện, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày. Bị cáo C2 tự giác giao nộp 01 gói ma tuý gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng. Bị cáo C2 khai nhận mua gói ma tuý Heroine (H2) bằng cách gọi điện hỏi mua của bị cáo N và bị cáo M1 đem đến bán cho. Mục đích bị cáo C2 mua để sử dụng cho bản thân. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, bị cáo N lấy gói ma tuý còn lại sử dụng một ít bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Số ma tuý còn lại bị cáo Ngọc g1 lại cất giấu trên người để sử dụng cho bản thân.

Đến 13 giờ 45 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở và nơi làm việc của bị cáo Nguyễn Mạnh N tại thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thu giữ trong túi áo khoác đang mặc trên người bị cáo N 01 gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng. Bị cáo N khai nhận là ma túy (mục đích để sử dụng). Trong túi quần bên phải, bị cáo N đang mặc có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, bàn phím số, số seri 1: 359952646729151, số seri 2: 359952646729169, bên trong lắp 01 sim điện thoại số 0335.781.xxx và trong túi quần bên trái có số tiền 5.000.000 đồng.

Hồi 14 giờ 20 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với bị cáo Dương Văn M1, thu giữ 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu xanh, bàn phím số, bên trong lắp sim điện thoại số 0349.566.xxx, số seri 1: 357705107875091, số seri 2: 357705107870109.

Ngày 27-12-2023, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể bị cáo Nguyễn Văn C2, bị cáo Nguyễn Mạnh N, bị cáo Dương Văn M1, kết quả: (+) Dương tính với ma túy.

Kết luận giám định số: 84/KL-KTHS ngày 30-12-2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Mạnh N ngày 27/12/2023: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng 0,030g (Không phẩy không ba không gam).

Kết luận giám định số: 85/KL-KTHS ngày 30-12-2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn C2 ngày 27/12/2023: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng 0,321g (Không phẩy ba hai một gam).

Tại cáo trạng số: 45/CT-VKSSD ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Văn M1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố đối với bị cáo Nguyễn Mạnh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn C2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Văn M1, bị cáo Nguyễn Mạnh N, bị cáo Nguyễn Văn C2. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của các bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:

Về tội danh:

  • - Tuyên bị cáo Dương Văn M1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
  • - Tuyên bị cáo Nguyễn Mạnh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
  • - Tuyên bị cáo Nguyễn Văn C2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn M1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 27-12-2023.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 27-12-2023.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C2 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 27-12-2023.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:

  • - 01 Phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Văn C2; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Văn C2 giám định ngày 27/12/2023”.
  • - 01 Phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Mạnh N; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Mạnh N giám định ngày 27/12/2023”.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ bị cáo Dương Văn M1 dùng vào việc phạm tội.

  • 01 Điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu NOKIA 105, loại bàn phím số, số seri 1: 357705107875091, số seri 2: 357705107870109, bên trong máy có lắp 01 sim điện thoại số 0349.566.xxx. Tình trạng máy không hoạt động.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền do bị cáo Dương Văn M1 phạm tội mà có.

  • Số tiền 500.000đ. Được trích từ số tiền 5.500.000đ đã được Kho bạc Nhà nước huyện S, tỉnh Tuyên Quang chuyển từ tài khoản số 3591.0.9047103.00000 (tài khoản tạm gửi của Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang) đến tài khoản số 3949.0.1064844.00000 (tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).

Truy thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền do bị cáo Dương Văn M1 phạm tội mà có.

  • Số tiền 500.000₫.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ bị cáo Nguyễn Mạnh N dùng vào việc phạm tội.

  • 01 Điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, loại bàn phím số, số seri 1: 359952646729151, số seri 2: 359952646729169, bên trong máy có lắp 01 sim điện thoại số 0335.781.xxx. Tình trạng máy không hoạt động.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Mạnh N tài sản không phải là vật chứng nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

  • Số tiền 5.000.000đ. Được trích từ số tiền 5.500.000đ đã được Kho bạc Nhà nước huyện S, tỉnh Tuyên Quang chuyển từ tài khoản số 3591.0.9047103.00000 (tài khoản tạm gửi của Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang) đến tài khoản số 3949.0.1064844.00000 (tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).

Vật chứng là đồ vật theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15-4-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Vật chứng là tiền theo Công văn số: 08/CV-CQCSĐT ngày 05-01-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang).

Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dương Văn M1.

Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C2 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Dương Văn M1, bị cáo Nguyễn Mạnh N, bị cáo Nguyễn Văn C2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16-5-2024).

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
  • - Lưu hs, hstha, vp.

T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn Minh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger