TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày 15-08-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đỗ Hải Hà |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Hồng Chuyên |
| Ông Nguyễn Hồng Diện |
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 08 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Văn T, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1984 tại huyện G, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T1 (đã chết) và bà Đỗ Thị X; có vợ là Hoàng Thị Kim O, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/06/2024 đến ngày 09/06/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).
Bị hại: Hoàng Ngọc T2, sinh năm 1990; nơi thường trú: thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi ở hiện tại: tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 00 phút, ngày 05/6/2024 Đỗ Văn T một mình đi bộ từ nhà đến cửa hàng điện thoại của gia đình Hoàng Ngọc T2 tại tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (cách nhà T khoảng 10m). T đi qua bãi đất trống trèo lên bờ tường dùng hai tay đẩy cánh cửa sắt của gia đình T2 sang một bên đủ người lọt qua rồi đi vào bên trong sân phía sau nhà T2, T tiếp tục nhấc cánh cửa lách phía sau hồi nhà ra và đi qua đường cửa lách vào bên trong phòng để đồ, quan sát thấy cửa đi vào gian bếp không đóng, T đi thẳng vào trong bếp và đi lên trên nhà tháo chốt cầu thang bằng kim loại, hạ thang xuống để đi lên trên gác xép, thấy chiếc đầu thu Camera an ninh để ở góc tường bên phải gác xép, T rút điện ra để đầu thu không hoạt động đồng thời rút hết các rắc cắm ra và cầm đầu thu Camera kẹp vào nách bên trái đi xuống cầu thang. T tiếp tục đi đến vị trí tủ kính trưng bày điện thoại, thấy tủ khóa T đặt đầu thu xuống nền nhà, dùng tay trái đẩy vào cánh tủ trượt sang bên phải, T dùng tay phải lấy một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng cho vào túi quần bên phải. Sau đó tiếp tục đi đến vị trí quầy bán hàng dùng tay phải mở ngăn kéo tủ quầy bán hàng ra (Ngăn kéo không khóa) thấy bên trong có tiền, T dùng tay phải cầm số tiền trong ngăn kéo ra cho vào túi quần bên phải, sau đó cầm theo đầu thu C đi theo lối cũ lúc trước đã vào và đi về nhà. Về đến nhà T đem số tiền vừa trộm cắp được ra đếm được 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) gồm loại mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) có 08 (tám) tờ và loại có mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) có 05 (năm) tờ, đếm xong T cho vào túi quần bên phải, còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng T cất giấu dưới mái tôn phía sau nhà, chiếc đầu thu Camera an ninh, màu đen T cất giấu ở trên thanh ô văng cửa bếp phía sau nhà rồi lên giường đi ngủ.
Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 05/6/2024, T dậy đi ra ngoài sân thì thấy Hoàng Ngọc T2 đang đứng ở trước cửa nhà của T2, T rủ T2 đi ăn sáng, hai người đi bằng xe ô tô của T2 đi vào xã Q ăn sáng, T trả tiền ăn sáng hết 70.000 đồng (bẩy mươi nghìn đồng) trong số tiền đã trộm cắp được trước đó, ăn sáng xong T cùng T2 đi về nhà. Đến khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, T nghe thấy T2 nói nhà bị mất trộm điện thoại, T sang xem T2 trếch Camera của nhà T2 nhưng không thấy gì, T2 nói với T “Anh thử trếch Camera nhà anh xem có thấy gì không”, T lấy điện thoại ra trếch Camera của gia đình T không thấy gì, lúc này T lấy số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) trước đó đã trộm cắp được đưa cho T2 và nhờ tú chuyển vào số tài khoản 106868982946 ngân hàng V (chủ tài khoản Đỗ Văn T) của T, để T chuyển đi trả nợ cho người khác, T đưa tiền mặt cho T2 xong đi về nhà, do lỗi mạng T2 chưa chuyển tiền vào tài khoản cho T được. Đến khoảng 16 giờ ngày 05/6/2024, T tiếp tục lấy 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) trong số tiền trộm cắp được trả nợ tiền sửa điện thoại cho T2. Số tiền còn lại T đã chi tiêu cá nhân hết.
Do nghi ngờ Đỗ Văn T là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình mình. T2 đến Công an thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang trình báo sự việc và giao nộp lại số tiền 4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) cho Công an thị trấn V, huyện B để làm căn cứ giải quyết vụ việc.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm Công an thị trấn V, huyện B tiến hành mời Đỗ Văn T đến làm việc. Quá trình làm việc Đỗ Văn T khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình ông Hoàng Ngọc T2 vào ngày 05/6/2024, đồng thời tự giác giao nộp cho Công an thị trấn V (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 12 Promax, màu trắng; 01 (một) đầu thu Camera an ninh, nhãn hiệu Dahua, màu đen.
Ngày 06/6/2024 Công an thị trấn V, huyện B chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cùng các vật chứng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định định giá tài sản số 21/KL- HĐĐGTS n gày 07/6/2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, Kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 12 Promax, màu trắng, cũ đã qua sử dụng (mua lại vào tháng 5/2024 với giá 10.000.000₫). Tại thời điểm tháng 6/2024 có giá là 7.830.000 đồng (bẩy triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).
- 01 (một) đầu thu Camera an ninh, nhãn hiệu Dahua, màu đen, cũ đã qua sử dụng (mua mới và sử dụng từ năm 2021 với giá 4.000.000 đồng) tại thời điểm tháng 6/2024 có giá là 1.430.000đ (một triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng).
Ngày 06/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành Quyết định trưng cầu giám định số: 432/QĐ- ĐTTH, Trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H, giám định: Số tiền 4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) gồm: 08 (tám) tờ có mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng); 02 (hai) tờ có mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật hay tiền giả.
Tại bản kết luận giám định số: 213/KL- KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, Kết luận: 10 (mười) tờ tiền Việt Nam đồng gửi giám định đều là tiền thật.
Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 46/CT-VKSBQ ngày 23/7/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố Đỗ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Đỗ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn T từ 07 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên của huyện B, tỉnh Hà Giang trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: tại phiên tòa bị hại vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy sự vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Văn T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, vật chứng của vụ án, phù hợp với biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường; biên bản họp định giá tài sản và Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện B ngày 07/06/2024, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Đỗ Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, có nội dung quy định như sau: "Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
[4] Hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Trị giá tài sản bị cáo Đỗ Văn T đã trộm cắp là 14.260.000₫ (Mười bốn triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng). Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát huyện B, tỉnh Hà Giang đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này ra luôn chấp hành đầy đủ chính sách pháp luật của Nhà nước, nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, có nơi cư trú rõ ràng.
[6] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục như vậy cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có điều kiện về tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra bị cáo Đỗ Văn T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Hoàng Ngọc T2 số tiền 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) là số tiền mà bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết trong tổng số tiền trộm cắp được là 5.000.000₫ (năm triệu đồng) của gia đình anh Hoàng Ngọc T2. Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường trên và không có yêu cầu bồi thường nào khác. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã thu giữ 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 12 Promax; 01 (một) đầu thu Camera an ninh, nhãn hiệu Dahua; Số tiền 4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra xác định những đồ vật, tài sản trên là tài sản thuộc sở hữu của bị hại Hoàng Ngọc T2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các đồ vật, tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp. Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT công an huyện B là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/08/2024).
Giao bị cáo Đỗ Văn T cho UBND thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hải Hà |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn T
