Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 15/5/2024

V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Quang Vinh
  2. Bà Phan Thị Thắng.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Tâm - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân

huyện Tánh linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh tham gia phiên tòa:

Bà Đinh Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2024/TLST - HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2024, về việc: “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐST - HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1954; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn - Bà Nguyễn Thị C trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn Q tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào năm 1980 tại UBND xã S, huyện T nhưng hiện nay giấy chứng nhận kết hôn đã bị thất lạc không còn nữa. Quá trình chung sống ông Q thường đánh đập bà C, đập phá đồ đạc trong gia đình, dùng những lời lẽ xúc phạm đến bà C và gia đình. Cho nên, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Bà C nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với ông Q được nữa. Bà C không còn tình cảm đối với ông Q nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà C và ông Q được ly hôn.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà C và ông Q có 03 người con tên Nguyễn Thị Thanh C1, sinh năm 1982; Nguyễn Nguyên V, sinh năm 1987; Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1990. Hiện nay các con đã trưởng thành, lập gia đình và đều có khả năng lao động nên bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2] Thể hiện tại các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị C tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào năm 1980 tại UBND xã S, huyện T nhưng giấy chứng nhận kết hôn bị thất lạc nên không còn để cung cấp cho Tòa án. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2022 ông Q bị tai nạn lao động dẫn đến một bên mắt bị mờ nên không thể làm những công việc nặng; khả năng lao động bị giảm sút; chỉ làm được những công việc nhẹ. Những công việc khác trong gia đình do bà C gánh vác. Từ đó, vợ chồng bất đồng quan điểm, phát sinh mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vả nhau. Hiện nay, bà C không còn chung sống với ông Q mà đến nhà con gái sinh sống. Mặc dù, ông Q nhiều lần đến tìm tác động quay về chung sống lại với nhau nhưng bà C không đồng ý. Bà C không còn liên lạc gì với ông Q. Tuy nhiên, ông Q vẫn còn tình cảm với bà C nên mong muốn vợ chồng tiếp tục chung sống lại với nhau. Ông Q không đồng ý ly hôn với bà C.

- Về con chung: Ông Q, bà C có chung 03 người con tên Nguyễn Thị Thanh C1, sinh năm 1982; Nguyễn Nguyên V, sinh năm 1987; Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1990. Hiện nay các con đã trưởng thành, lập gia đình và đều có khả năng lao động nên ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2].Những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

Bà Nguyễn Thị Cúc cung c các tài liệu chứng cứ gồm: 03 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị C; Nguyễn Thị Thanh C1; Nguyễn Nguyên V; Nguyễn Thanh T; Xác nhận thông tin về cư trú; Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Ông Nguyễn Văn Q cung cấp tài liệu chứng cứ gồm: 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn Q.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh tại địa phương về tình trạng quan hệ hôn nhân của ông Q và bà C.

[3].Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến như sau:

  • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa xét xử sơ thẩm.
  • - Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình tuân thủ theo đúng quy định của BLTTDS.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 và Điều 146, 147, 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
  • - Nghị quyết 35/200 hướng dẫn thi hành luật HNGĐ năm 2000.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị C được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q.

Về án phí: Miễn nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về quan hệ pháp luật trong vụ án:

Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ngoài ra, các đương sự không có yêu cầu nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh theo quy định tại khoản 1 Điều 35 BLTTDS.

[2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn Q tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 1980. Trong giai đoạn giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà C và ông Q điều khai nhận có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S vào năm 1980. Tuy nhiên, do giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bị thất lạc nên không cung cấp được. Bà C, ông Q không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã đăng ký kết hôn vào năm 1980 tại Ủy ban nhân dân xã S.

Thể hiện tại giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, ngày 12/3/2024 của Ủy ban nhân dân xã S xác định: Ông Q và bà C chung sống như vợ chồng vào năm 1980 nhưng không có đăng ký kết hôn.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định bà C và ông Q khi chung sống không có đăng ký kết hôn theo quy định và tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1980. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ - QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì bà C được yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét thấy: Mặc dù, trong giai đoạn giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Q đều thừa nhận vẫn còn tình cảm với bà C nên mong muốn tiếp tục chung sống với nhau nên không đồng ý ly hôn. Thế nhưng, bà C xác định cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc; thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và cãi vả nhau. Bà C không còn tình cảm với ông Q nên yêu cầu giải quyết ly hôn.

Trong thời gian sống ly thân, mặc dù ông Q nhiều lần tác động bà C quay về chung sống lại nhưng bà C không đồng ý. Tại biên bản xác minh ngày 08/4/2024 (bút lục 23) xác định: Cuộc sống vợ chồng ông Q, bà C chung sống không có hạnh phúc. Ông Q có tính gia trưởng, mỗi lần cãi vã nhau là thường đập phá đồ đạc trong gia đình. Bà C, ông Q không hòa thuận và đã được chính quyền xã hòa giải nhưng tình trạng hôn nhân vẫn không thay đổi.

Từ những phân tích, chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của ông Q, bà C đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng; cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc phúc; mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, cần xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C. Chấp nhận cho bà C được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ - QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội.

[3] Về con chung: Ông Q, bà C có chung 03 người con tên Nguyễn Thị Thanh C1, sinh năm 1982; Nguyễn Nguyên V, sinh năm 1987; Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1990. Hiện nay các con đã trưởng thành và có khả năng lao động và nuôi sống bản thân. Bà C, ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cho nên, Hội đồng xét xử không xét đến.

[4].Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5].Về án phí: Bà Nguyễn Thị C phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm. Tuy nhiên, do bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi thì bà C là người cao tuổi. Căn cứ vào quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 thì bà C thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí nên bà C không phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 điều 28, khoản 1 Điều 35; các Điều 146, 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
  • - Điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ – QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội.
  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C:
  • Bà Nguyễn Thị C được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q.
  • - Về án phí:
  • Miễn nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.

Án xử sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết (đã giải thích quyền kháng cáo).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - Các đương sự;
  • - CC THADS huyện Tánh Linh;
  • - UBND xã Suối Kiết;
  • - Lưu văn phòng, hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn

  • Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị C ly hôn Nguyễn Văn Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger