Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HSST

Ngày 15/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Huế

Ông Lê Đình Cự

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Trà Giang - Kiểm sát viên .

Trong ngày 15/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 05/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024 đối với :

Bị cáo: Đỗ Văn Q, sinh năm 1976; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không

Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông : Đỗ Thanh B, sinh năm 1954; Con bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1954; Vợ: Trần Thị V, sinh năm 1984, Con: có 01 con sinh năm 2003;

Tiền án: Không;

Tiền sự: 01 Quyết định xử phạt hành chính số 118/QĐ-XPVPHC ngày 17/01/2023 của Chủ tịch UBND huyện Đ, phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, Q đã nộp phạt ngày 19/01/2023.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Văn D, sinh năm 1982
  2. Anh Đào Mạnh T, sinh năm 1991
  3. Anh Trần Văn T1, sinh năm 1980
  4. Anh Trần Đình B2, sinh năm 1983
  5. Anh Nguyễn Thế M, sinh năm 1983
  6. Ông Đỗ Ngọc H, sinh năm 1951.

Đều cư trú tại: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, Đỗ Văn Q, Trần Văn D, Đào Mạnh T, Trần Văn T1, Trần Đình B2, Nguyễn Thế M đến nhà ông Đỗ Ngọc H chơi. Lúc này có một mình ông H ở nhà. 6 người gồm Đỗ Văn Q, Trần Văn D, Đào Mạnh T, Trần Văn T1, Trần Đình B2, Nguyễn Thế M ngồi uống nước ở phòng khách khoảng 10 phút thì nhìn thấy trên mặt bàn nước có 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã cũ nên cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng, lúc này ông H biết nhưng vì nể nang nên không ngăn cản 06 người đánh bạc, còn ông H đi làm việc nhà. Sáu người ngồi thành vòng tròn ở nền nhà phòng khách, bên trái Quảng lần lượt là T, D, M, T1, B2; cách chơi là: sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân từ A đến K, bắt đầu chơi 01 người trộn đều bộ bài rồi úp xuống chiếu cho mỗi người chơi bốc 01 quân bài, ai bốc được quân bài to nhất người đó được chia bài và tố (không ai nhớ được ai là người được chia bài và tố ván đầu tiên). Trước khi chia bài mỗi người chơi phải đặt xuống chiếu 10.000 đồng “vào gà” rồi người chia sẽ chia cho mỗi người 03 quân bài, số bài còn lại để ở giữa chiếu gọi là bài lọc. Chia bài xong người chia bài sẽ tùy thuộc vào cước bài của mình mà tố tiếp theo nhưng số tiền tố không quá 50.000đồng/ván, sau khi người chia bài tố thì những người chơi tùy thuộc vào cước bài của mình để theo hoặc không theo, nếu theo thì bỏ thêm số tiền tố, nếu không theo thì úp bài và mất số tiền đã “vào gà”. Tố xong các cửa theo tố lật bài để tính điểm: cước lớn nhất là “sáp” tức là có 03 quân bài cùng bộ, “sáp” lớn nhất là 03 quân A, “sáp” nhỏ nhất là 03 quân 2; cước lớn thứ 2 là “liêng” là có 03 quân bài liên tiếp nhau cùng hoặc khác chất, liêng lớn nhất là “QKA” và nhỏ nhất là “123”; cước lớn thứ 3 là “ảnh” tức là có 03 quân bài hình người, “ảnh” lớn nhất là ảnh có quân K; cuối cùng là tính điểm, hình người là 0 điểm, A là 1 điểm, cộng 3 quân bài rồi trừ đi 0 điểm, 10 điểm, 20 điểm thì ra số điểm, cao nhất là 9 điểm, nếu cùng điểm thì so sánh chất theo thứ tự rô, cơ, bích, tép. Người thắng sẽ được toàn bộ số tiền gà và số tiền tố của những người chơi ván đó và có quyền chia ván bài tiếp theo. Quá trình 06 người đánh bạc không có ai canh coi, thu tiền hồ, cho vay tín dụng, đánh bạc đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang, thu 3.460.000 đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng.

Đỗ Văn Q khai mang theo 650.000 đồng, sử dụng hết số tiền này để đánh bạc; khi bị phát hiện đang thắng 160.000đồng, toàn bộ số tiền đánh bạc để dưới nền nhà nơi Quảng ngồi đánh bạc.

Trần Văn D khai mang theo 610.000 đồng, sử dụng hết số tiền này để đánh bạc; khi bị phát hiện đang thắng 120.000 đồng, toàn bộ số tiền đánh bạc để dưới nền nhà nơi D ngồi đánh bạc.

Đào Mạnh T khai mang theo 560.000 đồng, sử dụng hết số tiền này để đánh bạc; khi bị phát hiện đang thua nhưng không xác định được thua bao nhiêu, số tiền còn lại để dưới nền nhà nơi T ngồi đánh bạc.

Trần Văn T1 khai mang theo 600.000 đồng để đánh bạc, sử dụng hết số tiền này để đánh bạc; khi bị phát hiện đang thua 240.000đồng, số tiền còn lại để dưới nền nhà nơi T1 ngồi đánh bạc.

Trần Đình B2 khai mang theo 500.000đồng, sử dụng hết số tiền này để đánh bạc; khi bị phát hiện đang thua 150.000đồng, số tiền còn lại để dưới nền nhà nơi B2 ngồi đánh bạc.

Nguyễn Thế M khai mang theo 540.000 đồng, sử dụng hết số tiền này để đánh bạc; khi bị phát hiện đang thắng 240.000đồng, số tiền đánh bạc để dưới nền nhà nơi M ngồi đánh bạc.

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Số tiền 3.460.000 thu trên chiếu bạc do 06 người gồm bị cáo và các anh Trần Văn D, Đào Mạnh T, Trần Văn T1, Trần Đình B2, Nguyễn Thế M sử dụng vào việc đánh bạc và 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân đã qua sử dụng đang quản lý theo thủ tục vật chứng.

Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt hành chính đối với tất cả những người liên quan.

Cáo trạng số 44/CT- VKSĐH ngày 03/4/2024 đã truy tố bị cáo Đỗ Văn Q1 tội: “ Đánh bạc”.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, hậu quả, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên cơ sở đó giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Q2 tội: “Đánh bạc”, Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51BLHS và Điều 35, Điều 36; Điều 50 BLHS tuyên phạt bị cáo từ 09 - 12tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo, phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền bị cáo từ 7.000.000 đồng – 10.000.000 đồng, đề nghị xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí.

Quá trình điều tra bị cáo Q và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn D, Đào Mạnh T, Trần Văn T1, Trần Đình B2, Nguyễn Thế M, Đỗ Ngọc H khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi nói lời sau cùng bị cáo biết việc mình làm là sai đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và xin được cải tạo tại địa phương.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi quyết định tố tụng: Các tài liệu chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án thì thấy đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được hiến đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do, đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Toàn bộ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[ 3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình tố tụng hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng số 44/CT- VKSĐH ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.

Lời khai nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bởi lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các anh: Trần Văn D, Đào Mạnh T, Trần Văn T1, Trần Đình B2, Nguyễn Thế M; Phù hợp với Biên bản sự việc do Công an huyện Đ lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 29/12/2023 tại gia đình ông Đỗ Ngọc H, cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ 30 phút đến 15 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, tại phòng khách nhà ông Đỗ Ngọc H, ở thôn H, xã H, huyện Đ, Đỗ Văn Q là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính đã có hành vi cùng 05 người khác là: Trần Văn D, Đào Mạnh T, Trần Văn T1, Trần Đình B2, Nguyễn Thế M, đều trú tại xã H, huyện Đ đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 3.460.000 đồng (Ba triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) bị Công an huyện Đ bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Q3 phạm vào tội “ Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321: Tội đánh bạc

1.Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của bộ luật này, hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

......

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng

......

[4] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo.

Hành vi của bị cáo là ít nghiêm trọng đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội. Do vậy việc đưa ra xét xử và áp dụng một mức hình phạt thỏa đáng là cần thiết để cải tạo giáo dục và phát huy tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

[ 5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền sự chưa được xóa án tích về hành vi đánh bạc nhưng đã được xác định là dấu hiệu định tội để xét xử đối với bị cáo trong lần phạm tội này, do vậy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tôi lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, do vậy không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật.

Do bị cáo là người lao động tự do không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập đối với bị cáo

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đánh bạc với mục đích trục lợi do vậy phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]Về xử lý vật chứng: 01 bộ tú lơ khơ đã qua sử dụng bị cáo cùng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 3.460.000 đồng là tiền bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Văn Dũng, Đào Mạnh T, Trần Văn T1, Trần Đình B2, Nguyễn Thế M, dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[8]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

[10]Về các vấn đề khác: Đối với anh Đỗ Ngọc H biết việc các anh Trần Văn D, Đào Mạnh T, Trần Văn T1, Trần Đình B2, Nguyễn Thế M tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng nhưng không can ngăn; các anh Trần Văn D, Đào Mạnh T, Trần Văn T1, Trần Đình B2, Nguyễn Thế M tham gia đánh bạc nhưng tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Tuy nhiên họ đều không có tiền án tiền sự về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Q4 tội: “ Đánh bạc”
  2. Về hình phạt và điều luật áp dụng:

    - Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s, khoản 1 Điều 51, Điều 36, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

    - Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Quảng 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Giao bị cáo Đỗ Văn Q cho UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại luật Thi hành án hình sự.

    Không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Đỗ Văn Q

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    - Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với Đỗ Văn Q5 tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung quỹ nhà nước

    - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân là tang vật vụ án có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 04/4/2024.

    - Tịch thu sung quỹ nhà nước 3.640.000 đồng là số tiền bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn D, Đào Mạnh T, Trần Văn T1, Trần Đình B2, Nguyễn Thế M dùng vào việc đánh bạc

  4. Về án phí và quyền kháng cáo:

    Áp dụng Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đỗ Văn Q6 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Áp dụng Điều 331, 333 bộ luật tố tụng hình sự thông báo cho bị cáo và những người có quyền lợi liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày. Đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi liên quan tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
  • - VKSND huyện Đông Hưng
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình
  • - Công an huyện Đông Hưng
  • - Chi cục THADS huyện Đông Hưng
  • - UBND xã Hồng Bạch,
  • - Lưu

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hà Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HSST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 47/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn Qu phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger