Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 47/2024/HS - ST

Ngày 13 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Đức Cơ - Phó hiệu trưởng Trường THPT Mỹ Đức C

Ông Nguyễn Tiến Bộ - Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Vinh Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST - HS ngày 15/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST - HS ngày 29/8/2024 đối với bị cáo: Nguyễn Duy Q, sinh năm 1972, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn T, xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy M (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q1; có vợ Kim Thanh X và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/4/2024 đến ngày 06/5/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Bị hại:

1. Cháu Nguyễn Ngọc Minh T, sinh ngày 10/12/2011 (chết ngày 28/4/2024)

Người đại diện hợp pháp của bị hại (cháu T): Anh Nguyễn Duy M, sinh năm 1985; chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1986; đều có HKTT: Thôn T, xã P, huyện, huyện M, Thành phố Hà Nội. (Anh Nguyễn Duy M ủy quyền cho chị Nguyễn Thị N). Vắng mặt.

2. Cháu Vũ Ngọc H, sinh ngày 06/8/2011

Người đại diện hợp pháp đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bị hại (cháu H): Anh Vũ Hồng S, sinh năm 1977; chị Lê Thị H1, sinh năm 1983; đều có HKTT: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (cháu H): Ông Nguyễn Ngọc C - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H. Có mặt.

mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH T5

Địa chỉ: Đ, thôn T, xã V, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1 - Giám đốc. Vắng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Duy Q có giấy phép lái xe hạng C, do Sở G cấp ngày 11/4/2023 có giá trị đến ngày 11/4/2028. Q là nhân viên lái xe của Công ty TNHH T5, địa chỉ tại: Đ, thôn T, xã V, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội. Khoảng 13 giờ ngày 28/4/2024, Q nhận nhiệm vụ điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát: 29H-726.08 của công ty đi từ xã V, huyện Ứ đến xã H, huyện M để lấy vật liệu xây dựng. Khi đi đến khu vực ngã 5 T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội thấy tín hiệu đèn đỏ nên Q dừng xe chờ. Khi được phép di chuyển, Q điều khiển xe ô tô đi với tốc độ khoảng 05 - 10km/giờ. Cùng lúc đó, cháu Nguyễn Ngọc Minh T, sinh năm 2011, trú tại: Đ, thôn T, xã P, huyện M, Thành phố Hà Nội điều khiển xe máy điện biển số 29MĐ3-710.30 chở sau cháu Vũ Ngọc H, sinh năm 2011, trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội đi phía trước, cùng chiều với Q thì xảy ra va chạm với xe của Q. Khi va chạm, Q giảm tốc độ xe đến khu vực gần với vạch kẻ đường dành cho người đi bộ thì dừng lại.

Hậu quả, cháu Vũ Ngọc Minh T2 tử vong tại chỗ, cháu Vũ Ngọc H bị thương phải đi cấp cứu tại bệnh viện M2 và chuyển đến bệnh viện X1 điều trị đến ngày 6/5/2024 ra viện.

Cùng ngày Nguyễn Duy Q đến Công an huyện M đầu thú và khai nhận hành vi vi phạm của mình.

* Qua khám nghiệm hiện trường thấy:

Hiện trường xảy ra tai nạn là khu vực ngã 5 T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội, mặt đường được đổ áp phan bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, có 05 hướng đi gồm: Hướng đi xã H, hướng đi xã H, hướng đi tổ dân phố V, hướng đi cầu Tế Tiêu, hướng đi xã P Mỗi một hướng đi ở giữa đường đều có giải phân cách cứng chia thành 02 chiều đường đi riêng biệt. Giữa ngã 5 có 01 vòng xuyến có đường kính 06m, tâm vòng xuyến cách cột đèn tín hiệu giao thông bên phải theo chiều đi từ Ngã 5 Tế Tiêu đi xã P là 25,2m. Lòng đường chiều từ Ngã 5 Tế T đi xã H rộng 10,20m. Phía trước Ngã 5 theo chiều đi từ cầu T đến có biển báo hiệu vòng xuyến và đèn tín hiệu giao thông. Hiện trường bị xáo trộn do quá trình đưa nạn nhân đi cấp cứu và các phương tiện qua lại. Khám nghiệm trong điều kiện trời nắng, sáng.

Lấy một điểm trên vòng xuyến cách tâm vòng xuyến 03m, cách cột Km7+800 đường T là 24,1m, cách cột đèn tín hiệu giao thông bên phải theo chiều đi từ Ngã 5 Tế Tiêu đi xã P là 22,4m. Lấy điểm trên nối với dải phân cách cứng hướng về xã H là đường thẳng làm mép chuẩn. Lấy cột mốc Km 7 + 800 đường TL 424 làm điểm mốc, khám nghiệm theo chiều Tế T3 đi H. Hiện trường có các dấu vết:

- Vết 1: Chùm vết cày xước trên mặt đường có diện (3,2x0,1x0,001)m, chiều hướng theo chiều khám nghiệm, đầu vết cách mép chuẩn là 3,05m, cuối vết cách mép chuẩn là 3,67m.

- Vết 2: Vết cày xước trên mặt đường có diện (2,0x0,06x0,001)m, chiều hướng theo chiều khám nghiệm, đầu vết cách mép chuẩn là 3,1m, cuối vết cách mép chuẩn là 3,2m, cách đầu vết 1 là 1,8m.

- Vết 3: Vị trí nạn nhân là cháu Nguyễn Ngọc Minh T nằm ngửa, đầu hướng TDP V, chân hướng Phù Lưu T4, đỉnh đầu tử thi cách đầu vết 2 3,9m; cách mép chuẩn 2,4m; ngón chân trái cách mép chuẩn là 3,4m.

- Vết 4: Là vùng đồ đạc, mảnh vỡ có diện 7x3cm, tâm vết cách ngón chân trái tử thi 1,1m; cách mép chuẩn 2,5m.

- Vết 5: Vết cày xước mặt đường diện (12,1x0,01x0,002)m, chiều hướng theo chiều khám nghiệm, đầu vết cách mép chuẩn là 3,5m, cuối vết cách mép chuẩn là 3,42m, đầu vết 5 cách tâm vết 4 là 1,0m.

- Vết 6: Vết cày xước mặt đường diện (2,25x0,01x0,003)m, chiều hướng theo chiều khám nghiệm, đầu vết cách mép chuẩn là 3,4m, cuối vết cách mép chuẩn là 3,23m, đầu vết 6 cách tâm vết 5 là 1,1m.

- Vết 7: Xe ô tô BKS: 29H-726.08 đầu xe hướng H, đuôi xe hướng ngã 5 T, trục ngoài bánh xe phía sau cùng bên trái cách mép chuẩn là 2.03m, trục trước trên cùng bên trái cách mép chuẩn là 2,13m.

- Vết 8: Xe mô tô BKS: 29MĐ–710.30 nằm dưới gầm xe ô tô BKS: 29H-726.08, đầu xe hướng xã H, đuôi xe hướng cầu T, trục trước xe cách trục bánh xe trước trên cùng là 1,7m, trục trước cách mép chuẩn là 3,3m, trục sau cách mép chuẩn là 3,7m, trục trước cách điểm mốc 3,5m.

* Qua khám nghiệm phương tiện:

Xe ô tô, BKS: 29H-726.80, loại xe tải màu xanh, số máy D103850201207072, số khung LZZ1EXSB9MN761504:

- Xe có đủ 02 gương chiếu hậu và gương cầu trước đầu xe.

- Khu vực ba đờ sốc phía trước đầu xe phát hiện các dấu vết:

+ Vị trí chính giữa lệch phải cách mép trong đèn gầm phía trước bên phải 22cm có Vết trượt xước bong tróc sơn trong diện (17x9)cm. Điểm thấp nhất của vết đo cách đất 85cm, điểm cao nhất của vết đo cách đất 101cm.

+ Vị trí chính giữa lệch phải cách mép trong đèn gầm phía trước bên phải 21cm có vết trượt xước kích thước (17x0,2)cm, điểm thấp nhất đo cách đất 75,5cm, điểm cao nhất đo cách đất 82cm.

+ Vị trí chính giữa dưới cùng, cách mép trong đèn gầm phía trước bên phải 37cm, có vết trượt xước kích thước (44x0,4)cm, điểm thấp nhất đo cách đất 75cm, điểm cao nhất đo cách đất 78cm, chiều hướng từ trái qua phải.

+ Vị trí chính giữa lệch trái, cách mép trong đèn gầm phía trước bên trái 29cm có vết trượt xước kích thước (38x1)cm, điểm thấp nhất đo cách đất 75cm, điểm cao nhất đo cách đất 76cm.

+ Vị trí chính giữa lệch trái, cách mép trong đèn gầm phía trước bên trái 29cm có vết trượt xước kích thước (12x4)cm, điểm thấp nhất đo cách đất 85,5cm, điểm cao nhất đo cách đất 95cm.

+ Vị trí chính giữa lệch trái, cách mép trong đèn gầm phía trước bên trái 15cm có vết trượt xước kích thước (4,5x2)cm, điểm thấp nhất đo cách đất 90cm, điểm cao nhất đo cách đất 94cm.

- Vị trí mặt trước, mặt dưới khung kim loại giá đỡ lót gầm phía dưới đầu xe có vết trượt xước kim loại kích thước (26x4)cm, chiều hướng từ trước về sau.

- Vị trí mặt trước, mặt dưới khung kim loại trục bánh xe phía trước có vết trượt xước kích thước (80x12)cm, chiều hướng từ trước về sau.

- Mặt trong lốp phía trong của lốp xe phía sau cùng bên trái có vết trượt xước cao su trong diện (35x15)cm.

- Cạnh phía trước bên trái ốp gần phía trước đầu xe có vết trượt xước cong kim loại bám dính chất màu đen dạng sơn và chất màu trắng dạng kim loại trên diện (3,5x0,3)cm, điểm thấp nhất cách đất 32,5cm, điểm gần nhất cách thành bên trái đầu xe 86cm.

Xe máy điện biển số 29MD3-710.30, số máy H30AM60V500W160700251, số khung RM5CYCFHAMGJ900703:

- Xe không có 02 gương chiếu hậu.

- Ốp nhựa đầu xe phía trước có vết:

+ Tại vị trí phía trên bên trái có vết trượt xước mất nhựa KT (6x2)cm.

+ Tại vị trí phía dưới bên trái có vết trượt xước mất nhựa, dập vỡ nhựa KT (12x5,5)cm.

- Chắn bùn trước bánh xe trước có vết trượt xước nhựa KT (4x1)cm.

- Tay phanh phía trước bên trái phát hiện dấu vết:

+ Mặt trước phía trong cùng có vết trượt xước kim loại kích thước (2,5x0,7)cm.

+ Đầu ngoài mặt trước có vết trượt xước kim loại kích thước (1,5x1,5)cm.

+ Tay phanh bị cong lệnh so với vị trí ban dầu 6cm.

- Đầu ngoài tay lái bên trái có vết trượt xước kim loại rách cao su diện (4,5x3)cm.

- Mặt ngoài bàn đạp chân chống chính có vết trượt xước kim loại diện (13x2,2)cm.

- Giá đèo hàng phía sau phát hiện các dấu vết:

+ Gãy rời tại vị trí chính giữa phía sau.

+ Mặt trên, mặt ngoài bên trái có vết trượt xước bám dính chất màu trắng kích thước (8x0,2)cm, điểm thấp nhất đo cách đất 71cm, điểm cao nhất đo cách đất 74cm.

+ Mặt sau trên cùng có vết trượt xước mất kim loại kích thước (2,2x0,2)cm, sâu 0,1cm.

+ Mặt trên có vết trượt xước bám dính đất diện (4x3,5)cm.

- Đèn hậu có vết trượt xước nhựa kích thước (1,2x0,5)cm.

- Mặt ngoài phía sau bên trái tay nâng phía sau yên xe có dấu vết trượt xước mất sơn màu đen và kim loại màu trắng trên diện (3x0.3)cm, điểm thấp nhất cách đất 73cm, điểm gần nhất cách đầu phía trước bên trái tay nâng là 32cm.

Kiểm tra hệ thống còi, xi nhan, phanh trước hoạt động; kiểm tra phanh sau - xe hư hỏng tay phanh nên không kiểm tra được.

* Tại bản kết luận giám định số 7973/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an T6, kết luận:

1. Dấu vết va chạm, chiều hướng dấu vết va chạm, trạng thái va chạm giữa 02 phương tiện:

- Dấu vết trượt xước, cong kim loại, bám dính chất màu đen (dạng sơn) và chất màu trắng (dạng kim loại) trên diện (3,5x0,3)cm ở cạnh phía trước bên trái ốp gầm phía trước đầu xe ô tô BKS: 29H-726.08, chiều hướng từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, mất sơn màu đen và kim loại màu trắng trên diện (3x0,3)cm ở mặt ngoài phía sau bên trái tay nâng phía sau yên xe máy điện BKS: 29MD3-710.30 chiều hướng từ sau về trước.

- Va chạm xảy ra giữa 02 (hai) phương tiện ở trang thái di chuyển đứng.

2. Vị trí va chạm trên mặt đường giữa 02 (hai) phương tiện trên ở khoảng phía trước đầu vết cày (1) theo sơ đồ hiện trường.

3. Không xác định được tốc độ của 02 (hai) phương tiện trên ngay trước khi xảy ra va chạm.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: Giá trị thiệt hại của bộ phận xe ô tô BKS: 29H-726.08 tại thời điểm là 1.650.000 đồng và Giá trị thiệt hại của bộ phận xe máy điện mang biển số 29MĐ3-710.30 tại thời điểm là 1.650.000 đồng.

* Do gia đình cháu Nguyễn Ngọc Minh T từ chối mổ tử thi, nên qua khám bên ngoài phát hiện các dấu vết:

- Vùng đầu, mặt: Toàn bộ hộp sọ vỡ xương sọ, biến dạng, khuyết mảnh sọ não, thoát mô não ra ngoài; vùng mặt biến dạng, vỡ xương toàn bộ mặt, lõm hốc mắt trái, vớ sụn mũi, vỡ xương hàm dưới, lưỡi nằm trong cung răng, miệng mở, vùng tai trái bầm tím xuất huyết, vùng sau gáy bên trái và phía sau bên trái cổ bầm tím.

- Vùng cổ: Xương cổ vững.

- Vùng lưng, ngực, bụng: Xương sống và xương sườn vững, vùng sau bả vai trái bầm tím kích thước (10x02)cm. Phần bên phải lưng có vết trượt lật biểu bì sau kích thước (11x5)cm.

- Vùng hai tay, hai chân: Vùng mặt sau cánh tay trái có vết trầy xước da rải rác kích thước (16x4)cm. Mặt trong đùi chân trái có vết trầy xước da kích thước (4x4)cm; mặt sau đầu gối trái có vết trầy xước da kích thước (8x6)cm; đầu gối trái có vết trầy xước da kích thước (2,5x1,5)cm; mu bàn chân trái có vết trầy xước da kích thước (3x8)cm; vùng mặt trước đùi phải có vết trầy xước da kích thước (10x8)cm.

Hai tay, hai chân vững, không phát hiện gãy xương.

* Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4301/KL - KTHS ngày 26/6/2024 của V - Bộ C1 kết luận:

- Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Vũ Ngọc H tại thời điểm giám định là 29%.

- Cơ chế hình thành thương tích đối với các tổn thương của cháu Vũ Ngọc H do vật tày gây nên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình cháu Nguyễn Ngọc M1 T tổng tiền là 300.000.000 đồng; gia đình cháu Vũ Ngọc H tổng số tiền là 35.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, cơ quan công an đã trao trả:

- Xe ô tô tải BKS: 29H-726.08 cho Công ty TNHH T5.

- Xe máy điện biển số: 29MĐ3-710.30, cho anh Vũ Hồng S.

* Tại bản cáo trạng số 40/CT - VKS - MĐ ngày 13/8/2024 của VKSND huyện Mỹ Đức đã truy tố Nguyễn Duy Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Duy Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (cháu H) đề nghị: Về hình phạt đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, còn về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu gì đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Duy Q từ 20 đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời giuan thử thách từ 40 đến 48 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận bồi thường xong, không đề nghị Tòa giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị cấm hành nghề.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với bị cáo; các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh, nguyên nhân, diễn biến hành vi; căn cứ lời khai nhận của bị cáo, sơ đồ hiện trường, biên bản hiện trường, bản ảnh, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Tòa thấy đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 35 phút ngày 28/ 4/ 2024, Nguyễn Duy Q có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tải biển kiểm soát: 29H-726.08 tham gia giao thông đến khu vực ngã 5 T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội thấy tín hiệu đèn đỏ nên Q dừng xe chờ. Khi được phép di chuyển, Q điều khiển xe ô tô nhưng không chú quan sát, không làm chủ tốc độ, không dừng lại một cách an toàn dẫn đến xe ô tô của Quảng va với xe máy điện biển số 29MĐ3-710.30 do cháu Nguyễn Ngọc M1 T điều khiển chở theo sau cháu Vũ Ngọc H. Hậu quả làm cháu Nguyễn Ngọc Minh T tử vong. Với hành vi trên của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT - BGTVT ngày 29/8/2019 và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng của công dân mà còn vi phạm trật tự giao thông, làm mất trật tự trị an địa phương, khiến dư luận bất bình đòi hỏi phải xử lý bằng pháp luật hình sự với một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

Khi quyết định hình phạt, đã xem xét đến quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình các bị hại, sau khi phạm tội ra đầu thú; bố bị cáo là ông Nguyễn Duy M được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, hạng ba; để xẩy ra tai nạn cũng có một phần lỗi từ phía nạn nhân (cháu T) khi chưa đủ độ tuổi (14 tuổi) được phép đi xe máy điện, vi phạm vào khoản 1 Điều 21 Nghị định số 100/2019/NĐ - CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vự giao thông đường bộ và đường sắt, được sửa đổi bổ sung bởi khoản 11 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ – CP ngày 28/12/2021 của Chính Phủ; phía gia đình các bị hại đều có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là các tình tiết quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS mà giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Hội đồng xét xử đối chiếu với Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo Nguyễn Duy Q đủ điều kiện xem xét được hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng người tội phạm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình cháu Nguyễn Ngọc M1 T tổng tiền là 300.000.000 đồng; gia đình cháu Vũ Ngọc H tổng số tiền là 35.000.000 đồng; các gia đình bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và không có đề nghị gì khác, nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Nguyễn Duy Q cho UBND xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Duy Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - Trung tâm Lý lịch tư pháp TW - Bộ tư pháp;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Công an huyện M;
  • - Chi cục THADS huyện M;
  • - UBND xã H;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

 

Lã Phi Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS - ST ngày 13/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 47/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Q - Vi phạm quy định về giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger