|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST
Ngày: 13-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phú Hữu
- Ông Nguyễn Viết Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 152/2024/HSST-QĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Quốc T, sinh năm 1999, tại thành phố Cần Thơ; Nơi thường trú: KV Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Nơi ở hiện nay: Đang điều trị tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976 và bà: Huỳnh Thị P; sinh năm 1980; Họ và tên vợ: Đào Thị Thúy L, sinh năm 1995; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: Không;
Tiền sự:
- Ngày 29/9/2022, bị Ủy ban nhân dân xã T, thành phố C, ra Quyết định xử phạt hành chính số 25/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, số tiền 2.500.000 đồng, đã nhận quyết định ngày 03/10/2022, chưa chấp hành đóng phạt.
- Ngày 06/12/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 25/QĐ-TA, thời hạn 12 tháng kể từ ngày 15/11/2023.
Tạm giữ, tạm giam: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú;
Hiện bị cáo đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 25/QĐ-TA, thời hạn 12 tháng kể từ ngày 15/11/2023.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Nguyễn Văn S, sinh năm 1965 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Võ Tấn T2, sinh năm 1959 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ F, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Tổ 1, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thị T3, sinh săm 1970 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ B, khóm C, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người làm chứng: Đào Thị Thúy L, sinh năm 1995 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi thường trú: Tổ D, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc T là người có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Vào khoảng 21 giờ, ngày 12/11/2023, Nguyễn Quốc T đi bắt ốc ở khu vực gần nhà thì phát hiện vườn của ông Nguyễn Văn S, thuộc tổ F, ấp Đ, xã T, thành phố C có 01 mô tơ điện và 01 máy bơm nén, không người trông coi, quản lý nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T mang 01 thùng nhựa và 01 cây kéo đi đến vườn xoài của anh S. T sử dụng kéo cắt dây điện của mô tơ và máy bơm nén, rồi đặt cả 02 vào thùng nhựa, sau đó vác về nhà. Đến khoảng 01 giờ, ngày 13/11/2023, T tiếp tục đến vườn xoài của anh Võ Tấn T2 thuộc tổ D, ấp Đ, xã T, thành phố C, sử dụng kéo cắt dây điện lấy trộm 01 mô tơ điện, màu xám xanh, rồi đặt mô tơ vào thùng nhựa, sau đó vác về nhà. T nói cho Đào Thị Thúy L là vợ của T biết việc T lấy trộm những tài sản trên, chị L kêu T đi trả lại bị hại, nhưng T không đồng ý. Đến khoảng 03 giờ, ngày 13/11/2023, T sử dụng xe mô tô không nhớ nhãn hiệu, biển số của 01 người bạn mới quen ngoài xã hội, chở tất cả các tài sản trộm đến cửa hàng phế liệu không có biển hiệu của bà Trần Thị T3, thuộc tổ B, khóm C, phường A, thành phố C bán được số tiền 660.000 đồng, T tiêu xài hết. Khi bán T không nói cho bà T3 biết đây là những tài sản trộm. Ngày 16/11/2023, ông S đến Công an xã T trình báo sự việc bị mất trộm tài sản như trên. Qua xác minh sàn lọc đối tượng, Công an xã T mời làm việc, T thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
Về vật chứng: Bà Trần Thị T3 tự nguyện giao nộp 01 mô tơ điện màu xám xanh, không rõ nhãn hiệu, trọng lượng 22kg, đã qua sử dụng; 01 mô tơ điện bị rỉ sét, không rõ nhãn hiệu; 01 máy bơm nén màu xanh dương, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, trọng lượng 25,5kg. Đối với thùng nhựa và kéo dùng để trộm tài sản T đã làm mất, xe mô tô chở tài sản trộm là do T mượn của 01 người bạn, sau khi đi bán những tài sản trộm T đã trả xe lại cho bạn, hiện nay không liên lạc được với người bạn này.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 687/KL-HĐĐGTS ngày 27/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 01 motor điện, không rõ nhãn hiệu, màu xám xanh, đã qua sử dụng của ông Võ Tấn T2, có giá: 533.333 đồng; 01 motor điện, không rõ nhãn hiệu, đã rỉ sét, màu xám, đã qua sử dụng, có giá 600.000 đồng; 01 máy bơm nén, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, có giá 800.000 đồng của ông Nguyễn Văn S. Tổng giá trị: 1.933.333 đồng. Sau khi định giá, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại anh Nguyễn Văn S và anh Võ Tấn T2 các tài sản trên xong. Đối với số tiền mua tài sản bị thu hồi bà Trần Thị T3 không yêu cầu T trả lại.
Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu bồi thường.
Lời khai bị cáo Nguyễn Quốc T phù hợp biên bản, kết luận định giá, biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường, lời khai bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 42/CT-VKS-TPCL ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Áp dụng Điều 173 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T với mức án từ 06 tháng tù đến 12 tháng tù.
- Về phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.
* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Quốc T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo, lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp biên bản, kết luận định giá, biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường, lời khai bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:
Bị cáo Nguyễn Quốc T đã bị xử phạt hành chính ngày 29 tháng 9 năm 2022 về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 2.500.000 đồng, bị cáo chưa nộp phạt, nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vào tối ngày 12 tháng 11 năm 2023 đến rạng sáng ngày 13 tháng 11 năm 2023, Nguyễn Quốc T đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 mô tơ điện, không rõ nhãn hiệu, đã bị rỉ sét, màu xám và 01 máy bơm nén, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng của anh Nguyễn Văn S, trị giá 1.400.000 đồng; 01 mô tơ điện, không rõ nhãn hiệu, màu xám xanh, đã qua sử dụng của anh Võ Tấn T2, trị giá 533.333 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 1.933.333 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bản thân bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Đáng lẽ ra, khi bị Ủy ban nhân dân xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25/QĐ-XPHC ngày 29/9/2022 về hành vi trộm cắp tài sản, thì bị cáo phải biết sửa đổi và chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật. Nhưng ngược lại, xuất phát từ việc xem thường pháp luật, muốn có tiền mà không phải bỏ công sức lao động như bao người khác, bị cáo lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quốc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...".
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đặc biệt thời gian gần đây, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng ngày càng tăng, gây thiệt hại về tài sản, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, và cũng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, nhằm để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản; Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liện quan không yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét.
[7] Về vật chứng:
- Đối với: 01 (một) motor điện, không rõ nhãn hiệu, màu xám xanh, đã qua sử dụng là tài sản của ông Võ Tấn T2. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông T2, ông T2 đã nhận lại tài sản xong, là phù hợp.
- Đối với: 01 (một) motor điện, không rõ nhãn hiệu, đã rỉ sét, màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) máy bơm nén, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng là tài sản của ông Nguyễn Văn S. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông S, ông S đã nhận lại tài sản xong, là phù hợp.
[8] Các vấn đề khác: Đối với Đào Thị Thúy L là vợ của T biết hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo T mà không tố giác. Tuy nhiên bị cáo T phạm tội thuộc khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, nên hành vi của chị L không đủ dấu hiệu cấu thành tội “Không tố giác tội phạm”.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố Cao Lãnh về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Phong |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
