|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11-9-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích và bà Phạm Thị Hoa.
Thư ký phiên tòa: Ông Lã Phú Huy- Thư ký TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, TP. xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 139/2024/TLST- HNGĐ ngày 11/7/2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 12/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 128/2024/QĐST- HNGĐ ngày 30/8/2024; giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hạ N, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ D, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ D, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 08/7/2024 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hạ N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông H đi đến hôn nhân vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, bà N và ông H chung sống với nhau tại nhà cha mẹ ruột của bà N tại: Tổ D, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Thời gian đầu bà N và ông H chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H không quan tâm đến gia đình, vợ con, dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cải vã, có những lời lẻ xúc phạm, không còn tôn trọng nhau. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình giải quyết nhưng không có kết quả. Hiện nay, giữa bà N và ông H sống ly thân nhau. Nay bà N xác định tình cảm của bà đối với ông H không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với chồng là ông Võ Văn H.
Về con chung: Bà N xác định giữa bà và ông H có 01 con chung Võ Quốc H1, sinh ngày 07/9/2014. Ly hôn, bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi. Không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định giữa bà và ông H không có.
* Bị đơn ông Võ Văn H đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của ông H trong hồ sơ vụ án và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng.
- Về người tham gia tố tụng:
+ Đối với nguyên đơn - bà N: Chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Đối với bị đơn - ông H: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai là chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Do vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 3 Điều 228 BLTTDS, xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung:
+ Xét thấy quan hệ hôn nhân của bà N và ông H đã thật sự trầm trọng nên cần áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình cho bà N được ly hôn ông H.
+ Về con chung: Giao con chung Võ Quốc H1, sinh ngày 07/9/2014 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi; ông H không cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa bà Nguyễn Thị Hạ N và ông Võ Văn H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Ông Võ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hạ N và ông Võ Văn H xây dựng gia đình với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H không quan tâm đến gia đình, vợ con, dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cải vã, có những lời lẻ xúc phạm, không còn tôn trọng nhau. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình giải quyết nhưng không có kết quả. Hiện nay, giữa bà N và ông H sống ly thân nhau.
Tại phiên tòa, bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông H. HĐXX xét thấy: Ngoài những mâu thuẫn vợ chồng như bà N trình bày, qua xác minh tại địa phương ngày 29/7/2024, thể hiện vợ chồng bà N hiện nay không sống cùng nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà N là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận. Còn ông H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến, ông không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình nên cần vận dụng khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xử lý là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Võ Quốc H1, sinh ngày 07/9/2014 cho đến khi con đủ 18 tuổi; không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. HĐXX xét thấy, khi quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, nếu con từ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con, tại bản tự khai cháu H1 có nguyện vọng được ở với mẹ, vì ở với mẹ điều kiện đi học dể dàng hơn và được mẹ quan tâm, chăm sóc nhiều hơn. Mặc khác, trước khi bà N và ông H ly thân cho đến nay, cháu H1 đều sống cùng bà N. Do đó, việc giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nên không xét đến.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định giữa bà và ông H không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[3] Về án phí: Bà N phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ - ST theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Các đề nghị của đại diện viện kiểm sát về nội dung vụ án tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ban hành ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị Hạ N đối với ông Võ Văn H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Hạ N được ly hôn ông Võ Văn H.
Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của của bà Nguyễn Thị Hạ N được ly hôn ông Võ Văn H nên giấy chứng nhận kết hôn số 45/2014, quyển số 01/2014 do UBND do UBND phường M, quận S cấp ngày 23/4/2014 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giao con chung Võ Quốc H1, sinh ngày 07/9/2014 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi; ông H không cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định giữa bà và ông H không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
4. Án phí HNGĐ-ST 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Hạ N phải chịu nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0002725 ngày 11/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nhận (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đông Thanh |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho bà Nguyễn Thị Hạ Ng được ly hôn ông Võ Văn H
