Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-7-2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia

đình ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Phạm Phước Cường.
  • Ông Nguyễn Thanh Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2024/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Xuân H, sinh năm 1992; nơi cư trú: số A, Tôn Thất T, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đỗ Trung N, sinh năm 1993; nơi cư trú: số C N, tổ F, khóm G, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

(Bà H có mặt, ông N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Xuân H trình bày:

Về hôn nhân: Bà Đặng Xuân H và ông Nguyễn Đỗ Trung N tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 6 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với gia đình N. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do N không chăm lo làm ăn, phụ giúp kinh tế gia đình. Bà H đã hai lần yêu cầu ly hôn với ông N và đã rút đơn để hàn gắn tình cảm gia đình nhưng ông N vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Khoảng tháng 02/2023, H về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau, tình cảm không còn nên bà H yêu cầu ly hôn với ông N.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà H và ông N có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 23/5/2017 và Nguyễn Thành N2, sinh ngày 09/12/2019. Các con chung hiện đang do H đang nuôi dạy, khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi dạy hai con chung, yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng x 02 con = 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Đỗ Trung N trình bày:

Về hôn nhân: thống nhất với bà H về thời gian và tình trạng hôn nhân như bà H trình bày; nhưng mâu thuẫn vợ chồng không lớn và còn tình cảm với bà H nên không đồng ý ly hôn .

Về con chung: Thống nhất có hai con chung như bà H trình bày; nếu ly hôn ông N đồng ý giao con chung cho bà H tiếp tục nuôi dạy, ông N đồng ý cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tòa án tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do ông N vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa,

Nguyên đơn bà Đỗ Xuân H1 rút lại yêu cầu đối với ông N về cấp dưỡng nuôi con chung.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

  • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
  • - Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt không lý do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đặng Xuân H được ly hôn với ông Nguyễn Đỗ Trung N. Về con chung: đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà H đối với ông N về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; bà H được nuôi dạy con chung tên Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 23/5/2017 và Nguyễn Thành N2, sinh ngày 09/12/2019, ông N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

  • [1] Về thẩm quyền: Bà Đặng Xuân H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Đỗ Trung N. Ông N có nơi cư trú trên địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Đỗ Trung N đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

  • [3] Về quan hệ hôn nhân:
  • Bà Đặng Xuân H và ông Nguyễn Đỗ Trung N tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 147 ngày 27/8/2016 nên là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

    Xét vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng trong thời gian chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về cuộc sống, bà H đã hai lần yêu cầu xin ly hôn và tự nguyện rút lại đơn khởi kiện được thể hiện với hai Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án ngày 12/01/2022 và 21/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc; ông N không đồng ý ly hôn với bà H. Tuy nhiên, khi Tòa án tiến hành hòa giải, xét xử ông N vắng mặt, không có thiện chí để hòa giải hàn gắn gia đình.

    Từ đó, cho thấy mâu thuẫn gia đình đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc ly hôn với ông N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  • [4] Về con chung: Bà H và ông N thống nhất có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 23/5/2017 và Nguyễn Thành N2, sinh ngày 09/12/2019. Các con chung hiện đang do H đang trực tiếp nuôi dạy; ông N cũng đồng ý giao con chung cho bà H tiếp tục nuôi dạy và đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Xét thấy, để ổn định môi trường sống cũng như quyền lợi về mọi mặt và nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử xét giao hai con chung là Nguyễn Thiện N1 và Nguyễn Thành N2 cho bà H tiếp tục nuôi dạy theo quy định khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

    Tại phiên tòa bà H tự nguyện rút lại một phần yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con do ông N không có thu nhập ổn định. Yêu cầu này phù hợp theo phạm vi khởi kiện, nên Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 224 Bộ luật tố tụng dân sự.

    Bà Đặng Xuân H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Đỗ Trung N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  • [5] Về tài sản chung và nợ chung: ông N khai không có, bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
  • [6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
  • Bà Đặng Xuân H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông Nguyễn Đỗ Trung N không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

  • [7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 244 khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  • [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Xuân H.
  • Bà Đặng Xuân H được ly hôn với ông Nguyễn Đỗ Trung N.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 147 ngày 27 tháng 8 năm 2016 của Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

  • [2] Về con chung: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Xuân H đối với ông Nguyễn Đỗ Trung N về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Bà Đặng Xuân H được tiếp tục nuôi dạy hai con chung tên Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 23/5/2017 và Nguyễn Thành N2, sinh ngày 09/12/2019. Ông Nguyễn Đỗ Trung N không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

    Bà Đặng Xuân H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Đỗ Trung N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  • [3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
  • Bà Đặng Xuân H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003213 ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Bà Đặng Xuân H đã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn Đỗ Trung N không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  • [4] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà Đặng Xuân H có quyền kháng cáo Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Đỗ Trung N vắng mặt tại phiên tòa là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS TP Châu Đốc;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lâm Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn

  • Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân và gia đình, ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger