|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST
Ngày: 11/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Lệ
2. Ông Dương Việt Vinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lưu Nguyên Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại Nhà văn hóa T, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:
- - Họ tên: Lê Văn B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07 tháng 5 năm 1974 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện P, thành phố T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: làm ruộng; Con ông: Lê Văn Đ (đã chết); Con bà: Dương Thị L, sinh năm 1928; Gia đình có 09 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ: Dương Thị M sinh năm 1976; Có 2 con, con lớn sinh năm 1997 con nhỏ sinh năm 2002;
- - Tiền án, tiền sự: Không.
- - Nhân thân: 01.
- - Quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma tuý vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội của tỉnh Thái Nguyên số 5667/QĐ-UBND thời hạn 12 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 21/11/2012.
- - Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 cho đến nay, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
- - (Có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Dương Thị M, sinh năm 1976 (có mặt)
Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
-
Ông Lê Văn Đ1, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
-
Ông Dương Văn Q, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
Người chứng kiến: Ông Dương Tuấn A, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 19/12/2023 tại khu vực bãi rác xóm H thuộc xóm H, xã T, huyện P, Tổ công tác Công an huyện P phối hợp với Công an xã T bắt quả tang Lê Văn B, sinh năm 1974, trú tại xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đang có hành vi chuẩn bị bán chất ma túy cho Lê Văn Đ1, sinh năm 1987, trú tại xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, khi chưa kịp bán ma túy cho Đ1 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, Lê Văn B đã tự giác lấy từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc trên người ra giao nộp 02 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng B khai nhận là ma túy loại Heroine B đem theo để bán cho Đ1. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của B số tiền 250.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 230 đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 20G1-559.13 đã qua sử dụng, không phát hiện thu giữ đồ vật có liên quan đến hành vi phạm tội từ Lê Văn Đ1. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, đưa B và Đ1 về Công an huyện P để giải quyết theo quy định.
Hồi 23 giờ 35 phút ngày 19/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình phối hợp cùng Phòng K công an tỉnh T tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng trong bì thư niêm phong (kí hiệu A – thu giữ của Lê Văn B) có khối lượng 0,416 gam. Lấy toàn bộ khối lượng chất bột màu trắng sau cân niêm phong vào bì thư (kí hiệu A1) gửi giám định.
Ngày 19/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của Lê Văn B tại xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên không phát hiện thu giữ gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại Kết luận giám định số 56/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: chất bột dạng cục màu trắng trong mẫu A1 (thu giữ của B) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,416 gam.
Tại cơ quan CSĐT Công an huyện P, B đã khai nhận khoảng 18 giờ 45 phút ngày 19/12/2023 B đem theo ma túy đến khu vực bãi rác xóm H thuộc xóm H, xã T, huyện P nhằm bán cho Đ1 theo như đã hẹn từ trước, khi đến khu vực này B gặp Đ1 nhưng chưa kịp đưa ma túy cho Đ1 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Ngoài ra B còn khai nhận đã bán ma túy cho người khác 2 lần trước khi bị bắt, cụ thể như sau:
- - Lần thứ nhất: Khoảng 07 giờ ngày 19/12/2023 tại khu vực xóm R, xã T, huyện P, B đã bán cho Dương Văn Q nhà ở xóm T, xã Đ 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng.
- - Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 19/12/2023 tại khu vực xóm H, xã T, huyện P, B đã bán cho Lê Văn Đ1 nhà ở xóm T, xã N 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng.
Lời khai nhận tội của Lê Văn B là có căn cứ, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của Dương Văn Q và Lê Văn Đ1, với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan CSĐT thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: Số tiền 250.000 đồng (tiền Ngân hàng N1); 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 bên trong có 0,401 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu B1 bên trong có 01 điện thoại di động nhân hiệu S Galaxy Note 8, màu xanh, máy đã qua sử dụng: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu C1 bên trong có 01 điện thoại di động nhân hiệu Nokia 230 màu đen, máy đã qua sử dụng: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave a màu đen, BKS 2001-559.13, xe đã qua sử dụng.
Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án DS huyện Phú Bình theo quy định.
Bản cáo trạng số 49/CT-VKSPB, ngày 25/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố Lê Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự .
Xử phạt: Lê Văn B từ 8 đến 9 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 5 (năm) triệu đến 10 (mười) triệu đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 bên trong có 0,401 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước Số tiền 250.000 đồng (tiền Ngân hàng N1); Truy thu đối với bị cáo B số tiền 50.000đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- - Tạm giữ 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu B1 bên trong có 01 điện thoại di động nhân hiệu S Galaxy Note 8, màu xanh, máy đã qua sử dụng: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu C1 bên trong có 01 điện thoại di động nhân hiệu Nokia 230 màu đen, máy đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho bà M 01 xe máy nhân hiệu Honda Wave & màu đen, BKS 20G1-559.13, xe đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận của Lê Văn B phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có căn cứ xác định:
Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 19/12/2023, tại khu vực bãi rác xóm H thuộc xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác Công an huyện P phối hợp cùng Công an xã T phát hiện bắt quả tang Lê Văn B đang có hành vi bán trái phép cho Lê Văn Đ1 02 gói ma túy (loại Heroine) có khối lượng 0,416 gam. Quá trình điều tra, B còn khai nhận trước đó đã hai lần bán ma túy cho Dương Văn Q và Lê Văn Đ1 vào ngày 19/12/2023.
Hành vi của Lê Văn B đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Nội dung Điều luật quy định:
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma tuý
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) ...
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
...;"
Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội do bị cáo thiếu lao động, tu dưỡng, nghiện ma túy nên để phục vụ cho nhu cầu bản thân và kiếm lời bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có có mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Xét thấy mức hình phạt từ 8 đến 9 năm tù mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy việc bị cáo phạm tội với mục đích thu lời bất chính, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền để sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo số tiền 5.000.00đồng.
[7] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 bên trong có 0,401 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1;
- - Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho Lê Văn B: 01 điện thoại di động nhân hiệu S Note 8, màu xanh, máy đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhân hiệu Nokia 230 màu đen, máy đã qua sử dụng;
- - Bà M là vợ Lê Văn B là người quản lý và sử dụng chiếc xe không biết việc bị cáo lấy xe đi để sử dụng vào việc mua bán ma tuý nên trả lại cho bà M quản lý 01 xe máy nhân hiệu Honda Wave alpha màu đen, BKS 20G1-559.13, xe đã qua sử dụng;
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 250.000 đồng (tiền Ngân hàng N1).
- - Buộc bị cáo B nộp lại số tiền thu lời bất chính 50.000đồng nộp ngân sách Nhà nước.
[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Dương Văn Q và Lê Văn Đ1 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Công an huyện P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Lê Văn B, tại cơ quan điều tra B khai nhận đã mua vào khoảng 6 giờ ngày 19/12/2023 tại khu vực G, thành phố T của một người đàn ông không quen biết với giá 800.000 đồng. Quá trình điều tra xác minh không có căn cứ để làm rõ, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 329, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn B 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
Phạt bổ sung (phạt tiền) bị cáo B 5.000.000đ (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1 bên ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,401 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Lê Văn B;
- - Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho Lê Văn B: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu B1, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu S Galaxy Note 8, màu xanh, máy đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu C1 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 230 màu đen, máy đã qua sử dụng;
-
- Trả lại cho bà M quản lý và sử dụng 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave anpha, màu đen, BKS 20G1-559.13, số khung RLHJA3929LY020325, số máy JA39E2021370, dung tích xilanh: 109cm³, ngày đăng ký 28/10/2020, xe có đủ gương chiếu hậu hai bên (có 01 chìa khoá xe), xe cũ đã qua sử dụng.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 7/6/2024 giữa Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình)
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 250.000 (hai trăm lăm mươi nghìn) đồng theo ủy nhiệm chi lập ngày 30/5/2024.
- - Buộc bị cáo B nộp lại số tiền thu lời bất chính 50.000đồng nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQS14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo B phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo B, bà M có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đ1 và ông Q vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thanh Nhàn |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
