Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10/7/2024

“Vv Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Xanh và ông Đoàn Xuân Hòa.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Khắc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 57/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2024 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Phạm Thị Bảo Y; sinh năm 1994; nơi thường trú: tổ E, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: anh Trần Đức A; sinh năm 1993; nơi thường trú: tổ E, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: 3, ngõ A, đường N, quận T, thành phố C, Đài Loan, Trung Quốc; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị Bảo Y trình bày:

Chị Phạm Thị Bảo Y và anh Trần Đức A đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân thị trấn T, phường H, tỉnh Quảng Ninh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 86/2013, quyển số 01/2013 ngày 18/12/2013. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do điều kiện kinh tế gia đình. Đến năm 2020, hai vợ chồng quyết định cùng nhau đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Sau khi đi xuất khẩu lao động, anh Đức A không tu chí làm ăn, vẫn tiếp tục chơi bời, rượu chè và đánh đập chị Y. Chị Y nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Y đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Đức A.

2

Về con chung: vợ chồng có một con chung là Trần Minh T; sinh ngày 26/8/2015, hiện nay cháu Trần Minh T hiện nay đang ở với chị Phạm Thị Bảo Y nên đề nghị Tòa án giao cháu Trần Minh T cho chị Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: chị Phạm Thị Bảo Y không đề nghị đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ngày 11/9/2023, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã lập hồ sơ uỷ thác tư pháp cho Văn phòng K tại Đ để tống đạt giấy tờ, tài liệu cho bị đơn là anh Trần Đức A, sinh năm 1993; nơi thường trú: tổ E, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: 3, ngõ A, đường N, quận T, thành phố C, Đài Loan, Trung Quốc. Tuy nhiên, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh chưa nhận được văn bản tống đạt giấy tờ đối với anh Trần Đức A.

* Ngày 15/9/2023, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã lập biên bản lấy lời khai con chung đối với cháu Trần Minh T. Cháu T khai có nguyện vọng ở cùng mẹ cháu là chị Phạm Thị Bảo Y.

* Tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các ngày 08/3/2024 và 08/4/2024, anh Trần Đức A đều vắng mặt.

*Ngày 10/6/2024, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh có công văn số: 16/2024/CV-TGĐ yêu cầu Văn phòng K tại Đ thông báo về kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Toà án cho bị đơn Trần Đức A. Đến nay, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh chưa nhận được phản hồi của Văn phòng K tại Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa sơ thẩm phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật; việc tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn theo địa chỉ tại Đìa L qua Văn phòng kinh tế, văn hóa Việt Nam tại Đ không có kết quả. Về nội dung: đại diện Viện kiểm sat đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Bảo Y; cho cho chị Y được ly hôn anh Trần Đức A; giao con chung là cháu Trần Minh T cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; anh Đức A không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

3

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, nuôi con chung”; bị đơn anh Trần Đức A; sinh năm 1993; nơi thường trú: tổ E, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: 3, ngõ A, đường N, quận T, thành phố C, Đài Loan, Trung Quốc. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Nguyên đơn chị Phạm Thị Bảo Y vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Đức A đều vắng mặt trong các phiên họp, phiên tòa (không có đơn xin vắng mặt). Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Bảo Y và anh Trần Đức A đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân thị trấn T, phường H, tỉnh Quảng Ninh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 86/2013, quyển số 01/2013 ngày 18/12/2013.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do điều kiện kinh tế gia đình. Đến năm 2020, hai vợ chồng quyết định cùng nhau đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Sau khi đi xuất khẩu lao động, anh Đức A không tu chí làm ăn, vẫn tiếp tục chơi bời, rượu chè và đánh đập chị Y. Chị Y nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Y đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Đức A.

Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thấy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y và giải quyết cho chị Y được ly hôn với anh Đức A.

[3] Về con chung: vợ chồng có một con chung là Trần Minh T; sinh ngày 26/8/2015. Hiện nay, cháu T đang ở với chị Y nên chị Y đề nghị Tòa án giao cháu T cho anh chị Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Xét thấy yêu cầu, quan điểm, điều kiện của chị Y về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung khi ly hôn như nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, không làm xáo trộn cuộc sống sinh hoạt của con chung, phù hợp với nguyện vọng của con chung là ở với mẹ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Đức A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà

4

không ai được cản trở.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị Phạm Thị Bảo Y không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: chị Y đề nghị Tòa án không giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: nguyên đơn chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Bảo Y.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Bảo Y được ly hôn anh Trần Đức A.
  2. Về con chung: giao cho chị Phạm Thị Bảo Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là Trần Minh T; sinh ngày 26/8/2015, cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
  3. Sau khi ly hôn, anh Trần Đức A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Trần Đức A lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Phạm Thị Bảo Y có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Phạm Thị Bảo Y không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Trần Đức A có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
  4. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị Phạm Thị Bảo Y không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về tài sản chung và nợ chung: chị Y đề nghị Tòa án không giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí ủy thác tư pháp: chị Phạm Thị Bảo Y phải nộp 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 200.000đ lệ phí ủy thác tư pháp

5

về dân sự, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), lệ phí chị Y đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0016307 và Biên lai thu tiền phí, lệ phí số: 0096534 ngày 07/9/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Phạm Thị Bảo Y có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Anh Trần Đức A có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND thị trấn Trới, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trí Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Bảo Y - Trần Đức A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger