TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/7/2024. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn
Các hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân;
Bà Thạch Thị Lan Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 481/2023/TLST-HNGĐ ngày 29/12/2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1992; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “có mặt”.
Bị đơn: Anh Lưu Ngọc H, sinh năm: 1983; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị N và anh H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 24/8/2010. Sau khi kết hôn về sống chung với nhau, cuộc sống vợ chồng chị hòa thuận, hạnh phúc, tuy trong cuộc sống có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Tuy nhiên, từ năm 2020 thì cuộc sống vợ chồng không hòa thuận hạnh phúc mà xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, bất hòa, cãi nhau thường xuyên. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Từ đó đến nay, vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm nhưng đều không được. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và nếu tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay chỉ khiến cả hai mệt mỏi, làm ảnh hưởng đến con cái nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Lưu Nguyễn Bảo K, sinh ngày 18/8/2010 và Lưu Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 19/7/2013. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các con và theo quy định của pháp luật, không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Quá trình chung sống giữa chị và anh H không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai của bị đơn anh Lưu Đức H1 trình bày: Về quan hệ hôn nhân của vợ chồng anh như chị N trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với mẹ anh tại xã M. Quá trình chị N sống chung với mẹ chồng thì có xảy ra bất hòa nên khoảng năm 2019 vợ chồng anh chuyển đến thị trấn N sinh sống, kinh doanh. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 8/2023 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bản thân chị N không thành thật với anh trong chuyện tình cảm. Khi vợ chồng xảy ra bất hòa, cãi nhau, trong lúc nóng giận anh có đánh chị N dẫn đến vợ chồng bất hòa và tự sống ly thân từ tháng 8 năm 2023 đến nay không còn chia sẻ với nhau được nữa, hơn nữa, trong thời gian mâu thuẫn chị N không thay đổi để vợ chồng cùng khắc phục nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài. Bản thân anh xác định anh rất yêu thương vợ, chỉ mong muốn vợ chồng cải thiện tình cảm về chung sống với nhau để cùng chăm lo cho các con nên anh không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N.
Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung như chị N trình bày trên là đúng. Khi ly hôn, anh yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của các con, không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh xác định giữa anh và chị N trong quá trình chung sống có nhận chuyển nhượng các quyền sử dụng đất gồm: Diện tích đất 02 ha ở thôn I, xã M, huyện L; diện tích đất 07 sào (7.000m²) tại thôn E, xã M, huyện L, đất đều chưa được cấp quyền sử dụng đất; 01 xe ô tô 07 chỗ nhưng do anh làm ăn thua lỗ nên đã bán được số tiền 600.000.000đ để trả nợ làm ăn; có 02 quán cà phê là quán M và quán N2. Mặt bằng các quán là do vợ chồng thuê và tự đầu tư, trang thiết bị và cơ sở quán, hiện các quán đều được kinh doanh có thu.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh có nguyện vọng yêu cầu chia tài sản nhưng do hiện tại điều kiện kinh tế của anh khó khăn nên anh chưa làm đơn yêu cầu chia tài sản.
Về nợ chung: Quá trình chung sống trước đây, vợ chồng có ký hồ sơ vay vốn Ngân hàng TMCP X số tiền 4.200.000.000đ. Tuy nhiên, anh đã vay tiền của ông Nguyễn Văn C số tiền 4.200.000.000đ để trả hết khoản nợ vay Ngân hàng; vợ chồng anh còn có nợ ông Nguyễn Văn G, bà Phạm Thị T số tiền 915.000.000đ đến nay chưa trả. Ngoài ra, vợ chồng anh còn có nợ một số khoản khác anh sẽ có đơn trình bày nộp đến Tòa án sau.
Vụ án đã được Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh H, về con chung chị yêu cầu được nuôi 02 con chung không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung chị đề nghị để hai vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh H không đồng ý ly hôn với chị N nếu chị N cương quyết xin ly hôn thì anh đồng ý, về con chung anh yêu cầu được nuôi 02 con chung không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung do điều kiện kinh tế khó khăn anh chưa có tiền nộp chi phí tố tụng nên anh chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N, xử cho chị N và anh H được ly hôn.
Về con chung: Đề nghị giao cả 02 con chung là Lưu Nguyễn Bảo K, sinh ngày 18/8/2010 và Lưu Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 19/7/2013 cho chị Nguyễn Thị N có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con; việc cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu, còn anh H có yêu cầu nhưng không nộp tạm ứng án phí nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này nếu sau nay các bên đương sự có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Lưu Ngọc H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 24/8/2010 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N thì thấy rằng: Sau khi đăng ký kết hôn về sống chung với nhau, trong quá trình chung sống giữa chị N và anh H tuy có mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Tuy nhiên, từ năm 2020 đến nay thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống với nhau không có tiếng nói chung và nghi ngờ nhau trong chuyện tình cảm dẫn đến thường xuyên cãi vã nhau. Khi xảy ra mâu thuẫn thì anh H có đánh đập chị N làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và đã sống ly thân với nhau từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân thì vợ chồng không còn sự quan tâm chăm sóc đến nhau mà mạnh ai người đó sống. Nay, chị N xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và chị không còn tình cảm với anh H nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H để ổn định cuộc sống. Còn anh H không đồng ý ly hôn với chị N nhưng trên thực tế anh H cũng không tìm ra biện pháp gì để cải thiện hàn gắn quan hệ tình cảm vợ chồng, để vợ chồng đoàn tụ về chung sống với nhau. Mặt khác, tại phiên tòa anh H trình bày nếu chị N cương quyết xin ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý. Do vậy, nếu cứ duy trì tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự. Vì vậy, căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn ly hôn của chị N, xử cho chị N và anh H được ly hôn là phù hợp.
[2] Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị N và anh H có 02 con chung là Lưu Nguyễn Bảo K, sinh ngày 18/8/2010 và Lưu Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 19/7/2013. Khi ly hôn thì cả chị N và anh H đều có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu bên còn lại phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc cả chị N và anh H đều có nguyện vọng nuôi con chung là chính đáng thể hiện trách nhiệm đối với con. Tuy nhiên, khi giao con cho ai nuôi phải đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con phát triển. Xét thấy, kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay cả 02 con chung vẫn ở với chị N và tại phiên tòa chị N khẳng định chị có đủ điều kiện thu nhập để nuôi con; đồng thời, cháu K và cháu N1 hiện nay đã trên 07 tuổi đều có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Hơn nữa, cháu N1 là con gái đang trong giai đoạn phát triển dậy thì nên cần sự quan tâm gần gũi của mẹ nhiều hơn. Vì vậy, không để ảnh hưởng đến tâm sinh lý, tình cảm anh em và xáo trộn về nơi ở, việc học tập sinh hoạt của các cháu. Do đó, cần giao cả 02 con chung là Lưu Nguyễn Bảo K, sinh ngày 18/8/2010 và Lưu Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 19/7/2013 cho chị N có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con do chị N không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
[3] Về tài sản chung: Chị N trình bày để vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn anh H trình bày trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có tạo lập được tài sản chung nhưng vợ chồng không thể thỏa thuận được. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giải thích các quy định của pháp luật và lập biên bản ghi rõ nếu anh có yêu cầu giải quyết về tài sản chung thì làm đơn yêu cầu và cung cấp các tài liệu chứng cứ kèm theo để có cơ sở cho Tòa án xem xét giải quyết. Tuy nhiên, quá thời hạn Tòa án ấn định anh H không thực hiện. Do đó Tòa án không giải quyết vấn đề tài sản chung của vợ chồng trong vụ án này mà cần tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.
[4] Về nợ chung: Chị N trình bày quá trình chung sống thì vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn anh H trình bày quá trình chung sống trước đây vợ chồng có ký hồ sơ vay vốn Ngân hàng TMCP X chi nhánh Đ số tiền 4.200.000.000đ. Tuy nhiên, anh đã vay tiền của ông Nguyễn Văn C ở thôn C, xã M, huyện L số tiền 4.200.000.000đ để trả hết khoản nợ vay của Ngân hàng; vợ chồng anh còn có nợ ông Nguyễn Văn G, bà Phạm Thị T ở thôn C, xã M, huyện L số tiền 915.000.000đ đến nay chưa trả. Ngoài ra, vợ chồng anh còn có nợ một số khoản khác. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã mời ông C đến làm việc thì ông C khẳng định ông không cho anh H chị N vay tiền mà ông có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị B là mẹ của anh H lô đất đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP X chi nhánh Đ với số tiền là 4.200.000.000đ. Ông đã trả tiền cho Ngân hàng rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra đã sang tên cho ông. Nay chị N và anh H ly hôn thì ông không có tranh chấp gì và không yêu cầu anh H chị N vấn đề gì trong vụ án ly hôn này. Còn vợ chồng ông G, bà T trình bày năm 2016, vợ chồng ông bà có bán cho vợ chồng anh H mảnh đất khoảng 7000m² ở thôn E, xã M và một số tiền vay, tổng là 500.000.000đ. Do làm ăn thua lỗ chưa trả được nên tính lãi với mức là 1,5% trên tháng đến nay số tiền nợ lên đến 1.133.000.000đ. Nay chi N và anh H ly hôn thì phải trả nợ cho vợ chồng ông bà vào cuối năm 2024 nếu không trả được nợ thì vợ chồng ông bà sẽ khởi kiện vào một vụ án khác, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì trong vụ án ly hôn này. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giải thích các quy định của pháp luật và lập biên bản ghi rõ nếu anh có yêu cầu giải quyết về nợ chung thì làm đơn yêu cầu và cung cấp các tài liệu chứng cứ kèm theo để có cơ sở cho Tòa án xem xét giải quyết. Tuy nhiên, quá thời hạn Tòa án ấn định anh H không thực hiện. Do đó Tòa án không giải quyết vấn đề nợ chung của vợ chồng chị N, anh H trong vụ án này mà cần tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi đương sự có yêu cầu. Đồng thời, do đương sự không có yêu cầu cụ thể về nợ chung nên Tòa án không đưa ông Nguyễn Văn C; vợ chồng ông Nguyễn Văn G, bà Phạm Thị T; bà Nguyễn Thị B và một số người anh H cho là vợ chồng còn nợ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.
[5] Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N, xử cho chị Nguyễn Thị N và anh Lưu Ngọc H được ly hôn.
- Về con chung: Giao cả 02 con chung là Lưu Nguyễn Bảo K, sinh ngày 18/8/2010 và Lưu Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 19/7/2013 cho chị Nguyễn Thị N có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con; anh Lưu Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0004403 ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/7/2024) nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nga - Hoàng
