Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 09/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Dũng

Bà Nguyễn Thị Thủy

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Chu Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Trọng T. Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 10/7/1992 tại: xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu 6, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Đỗ Văn P, sinh năm 1959; Mẹ đẻ: Phạm Thị H, sinh năm 1962; Vợ: Phạm Thị H1, sinh năm 1994; Con: có 02 con sinh năm 2022 và 2024. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 30/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương, có mặt.

Bị hại: Nguyễn Như H, sinh năm 2001 (vắng mặt lần 2)

Địa chỉ: Khu 5, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Tuấn A, sinh năm 1995 (vắng mặt lần 2)

Nơi cư trú: Khu 9, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4/2022, Đỗ Trọng T có cho A Nguyễn Như H vay số tiền 120.000.000 đồng. Do quen bết nên cả hai thỏa thuận miệng về lãi suất anh H muốn trả cho T bao nhiêu thì tùy ý. Sau khi vay tiền H đã trả lãi bằng tiền mặt cho T một khoản tiền lãi nhưng không nhớ cụ thể đã trả bao nhiêu. Đến khoảng tháng 8/2023, H đã trả hết tiền cho T. Sáng ngày 13/10/2023, T và A H đến quán game Đặng Quân của A Đặng Hồng Quân, SN 1992, ở khu 2 xã Cao Xá, LL, Phú Thọ để chơi. Tại đây cả hai đã cãi chửi nhau do vẫn còn mâu thuẫn từ việc H vay tiền trước đó. Do bực tức, T đã dùng tay phải cầm 01 chiếc cốc thủy tinh trên bàn nhà Quân đập trúng phần đỉnh đầu H, làm vỡ cốc, sau đó T tiếp tục lấy thêm 01 chiếc cốc thủy tinh khác đập vào đầu của A H, A H giơ tay trái lên đỡ, nên T đập chiếc cốc trúng vào phần mu bàn tay trái của H, làm vỡ cốc, mảnh cốc vỡ sắc đâm vào mu bàn tay dẫn tới đứt gân cơ duỗi dạng ngón 1 bàn tay trái và tổn thương động mạch quay trái. Sau đó, T tiếp tục lấy chiếc mũ bảo hiểm trên xe mô tô của H để đánh H nhưng được A Quân can ngăn nên T không đánh nữa. Sau đó H ra về được gia đình đưa đi bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ rồi chuyển đến Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức để điều trị.

Ngày 30/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện LL đã trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Phú Thọ giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Như H. Tại kết luận giám định số 263/KLTTCT/TTPY ngày 15/12/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Tỷ lệ tổn thương cơ thể của A Nguyễn Như H là 15%.

- Cơ chế hình thành thương tích:

  • + Vết sẹo số một mu bàn tay sát khớp cổ tay bên trái và tổn thương nhánh thần kinh quay bên trái: Do tác động của vật cứng có cạnh sắc gây nên.
  • + Vết sẹo số hai mu bàn tay bên trái: Do bác sĩ phẫu thuật để điều trị”.

Đối với 02 chiếc cốc thủy tinh T sử dụng để đánh A H đã bị T làm vỡ là tài sản của A Quân, A Quân không yêu cầu T phải bồi thường. T đã bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho A H với số tiền 100.000.000 đồng, A H đã nhận đủ tiền không yêu cầu gì thêm.

Đối với việc T cho H vay 120.000.000 đồng với lãi suất tùy ý, A H đã trả cho T một khoản tiền lãi nhưng không nhớ là trả bảo nhiêu tiền. Hiện tại A H đã trả đủ tiền đã vay T và cả hai đều không có đề nghị gì.

Quá trình điều tra, ngoài hành vi gây thương tích cho A H như đã nêu trên, Cơ quan điều tra còn làm rõ trước đó T đã thực hiện hành vi phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Cụ thể như sau:

Khoảng giữa tháng 3/2022, do có mối quan hệ quen biết với Lê T A, sinh năm 1995, trú tại khu 9, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ nên T đã cho T A vay tiền với lãi suất 3000 đồng/1triệu/1ngày không có thời hạn và yêu cầu trả lãi theo từng tháng tương ứng với lãi suất 108%/01 năm, gấp 5,4 lần so với mức lãi suất cao nhất được quy định tại Bộ luật dân sự là 20%/năm để thu lời bất chính. T đã thống nhất với T A tiền cho vay và lãi hàng tháng sẽ thực hiện bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng MB số tài khoản 88886689999999 mang tên “LE TUAN A” đến số tài khoản ngân hàng MB số tài khoản 3510108282222 và tài khoản ngân hàng Techcombank có số tài khoản 19038444681010 đều mang tên “DO TRONG TUAN”. Với thủ đoạn trên trong thời gian từ tháng 3/2023 đến 6/2023, T đã nhiều lần cho A T A vay tiền, cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 19/3/2022, T cho A T A vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày. T yêu cầu trả lãi trước 01 tháng, A T A đồng ý nên T đã cắt trước 01 tháng tiền lãi là 900.000 đồng. Do A T A xin nợ lại T 500.000 đồng tiền lãi nên T chuyển khoản cho T A 9.600.000 đồng. Nội dung chuyển khoản ghi “Tiền cho vay”. Ngày 21/4/2022 T A đã chuyển khoản trả lãi cho T 500.000 đồng tiền nợ lãi nêu trên. Khoản vay này A T A đã trả tổng cộng cho T 07 tháng tiền lãi = 6.300.000 đồng. Sau đó T và T A thống nhất không tính lãi đối với khoản vay này nữa. Đến ngày 26/6/2023 A T A đã trả đủ tiền gốc khoản vay này cho T. Như vậy, số tiền lãi trong thời gian 7 tháng đến 20% theo bộ luật dân sự cho phép là 1.166.666 đồng; số tiền thu lời bất chính trên 20% là 5.133.334 đồng.

Lần 2: Ngày 24/3/2022, T cho A T A vay số tiền 30.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày. T yêu cầu trả lãi trước 01 tháng, A T A đồng ý. T đã cắt trước 01 tháng tiền lãi là 2.700.000 đồng, chỉ chuyển khoản cho A T A 27.300.000 đồng. Khoản vay này A T A đã trả tổng cộng cho T 07 tháng tiền lãi = 18.900.000 đồng. Sau đó T và T A thống nhất không tính lãi đối với khoản vay này nữa. Đến ngày 26/6/2023 A T A đã trả đủ tiền gốc khoản vay này cho T. Như vậy, số tiền lãi trong thời gian 7 tháng đến 20% theo bộ luật dân sự cho phép là 3.500.000 đồng; số tiền thu lời bất chính trên 20% là 15.400.000 đồng.

Lần 3: Ngày 02/7/2022, T cho A T A vay số tiền 20.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày. T yêu cầu trả lãi trước 01 tháng, A T A đồng ý. T đã cắt trước 01 tháng tiền lãi là 1.800.000 đồng chỉ chuyển khoản cho T A 18.200.000 đồng. Sau đó T và T A thống nhất không tính lãi đối với khoản vay này nữa. Đến ngày 26/6/2023 A T A đã trả đủ tiền gốc khoản vay này cho T. Như vậy, số tiền lãi trong thời gian 1 tháng đến 20% theo bộ luật dân sự cho phép là 333.333 đồng; số tiền thu lời bất chính trên 20% là 1.466.667 đồng.

Lần 4: Cùng ngày 02/7/2022, T cho A T A vay số tiền 20.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày. T yêu cầu trả lãi trước 01 tháng, A T A đồng ý. T đã cắt trước 1 tháng tiền lãi là 1.800.000 đồng chỉ chuyển khoản cho A T A 18.200.000 đồng. Sau đó T và T A thống nhất không tính lãi đối với khoản vay này nữa. Đến ngày 26/6/2023 A T A đã trả đủ tiền gốc khoản vay này cho T. Như vậy, số tiền lãi trong thời gian 1 tháng đến 20% theo bộ luật dân sự cho phép là 333.333 đồng; số tiền thu lời bất chính trên 20% là 1.466.667 đồng.

Lần 5: Ngày 18/7/2022 T cho A T A vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày. T yêu cầu trả lãi trước 01 tháng, A T A đồng ý. T đã cắt trước 01 tháng tiền lãi là 900.000 đồng, chỉ chuyển khoản cho A T A 9.100.000 đồng. Sau đó T và T A thống nhất không tính lãi đối với khoản vay này nữa. Đến ngày 26/6/2023 A T A đã trả đủ tiền gốc khoản vay này cho T. Như vậy, số tiền lãi trong thời gian 1 tháng đến 20% theo bộ luật dân sự cho phép là 166.667 đồng; số tiền thu lời bất chính trên 20% là 733.333 đồng.

Lần 6: Ngày 12/10/2022 T cho A T A vay số tiền 30.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày. T yêu cầu trả lãi trước 01 tháng, A T A đồng ý. T đã cắt trước 01 tháng tiền lãi là 2.700.000 đồng, chỉ chuyển khoản cho A T A 27.300.000 đồng. Sau đó T và T A thống nhất không tính lãi đối với khoản vay này nữa. Đến ngày 26/6/2023 A T A đã trả đủ tiền gốc khoản vay này cho T. Như vậy, số tiền lãi trong thời gian 1 tháng đến 20% theo bộ luật dân sự cho phép là 500.000 đồng; số tiền thu lời bất chính trên 20% là 2.200.000 đồng.

Lần 7: Ngày 31/10/2022, T cho A T A vay số tiền 40.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày. T yêu cầu trả lãi trước 01 tháng, A T A đồng ý. T đã cắt trước 01 tháng tiền lãi là 3.600.000 đồng, chỉ chuyển khoản cho A T A 36.400.000 đồng. Sau đó T và A T A thống nhất không tính lãi đối với khoản vay này nữa. Hiện A T A vẫn nợ T 40.000.000 đồng tiền gốc. Như vậy, số tiền lãi trong thời gian 1 tháng đến 20% theo bộ luật dân sự cho phép là 666.667 đồng; số tiền thu lời bất chính trên 20% là 2.933.333 đồng.

Lần 8: Ngày 07/11/2022, T cho A T A vay 5.000.000 đồng, cộng với số tiền 5.000.000 đồng, T cho T A vay ngày 27/10/2022 (T đã chuyển khoản ngày 27/10/2022) tính gộp lại là 10.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày. T yêu cầu trả lãi trước 01 tháng là 900.000 đồng, A T A đồng ý. T yêu cầu T A trả luôn 3.000.000 đồng, A T A nợ cũ của T, nên ngày 07/11/2022 T chỉ chuyển khoản cho A T A số tiền 1.100.000 đồng. Sau đó T và T A thống nhất không tính lãi đối với khoản vay này nữa. Đến ngày 26/6/2023 A T A đã trả đủ tiền gốc khoản vay này cho T. Như vậy, số tiền lãi trong thời gian 1 tháng đến 20% theo bộ luật dân sự cho phép là 166.667 đồng; số tiền thu lời bất chính trên 20% là 733.333 đồng.

Lần 9: Ngày 15/11/2022, T cho A T A vay số tiền 20.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày. T yêu cầu trả lãi trước 01 tháng, A T A đồng ý. T đã cắt trước 01 tháng tiền lãi là 1.800.000 đồng, chỉ chuyển khoản cho A T A 18.200.000 đồng. Sau đó T và A T A thống nhất không tính lãi đối với khoản vay này nữa. Đến ngày 26/6/2023 A T A đã trả đủ tiền gốc khoản vay này cho T. Như vậy, số tiền lãi trong thời gian 1 tháng đến 20% theo bộ luật dân sự cho phép là 333.333 đồng; số tiền thu lời bất chính trên 20% là 1.466.667 đồng.

Ngày 15/11/2022, T và A T A đã cộng lại tất cả các khoản T cho A T A vay nêu trên tổng là 190.000.000 đồng. Do A T A chưa có tiền trả nên T và A T A thống nhất A T A chỉ phải trả thêm cho T 1 tháng tiền lãi đối với khoản vay trên, là 17.100.000 đồng (lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày). Như vậy, đối với số tiền lãi trong thời gian 1 tháng đến 20% theo Bộ luật dân sự cho phép là 3.166.667 đồng; số tiền thu lời bất chính trên 20% là 14.033.333 đồng. Để động viên T A trả nợ T cho T A 1.100.000 đồng tiền lãi và chỉ lấy tròn số tiền lãi là 16.000.000 đồng.

Ngày 06/02/2023, A T A chuyển khoản trả lãi cho T số tiền 5.000.000 đồng, còn nợ 11.000.000 đồng. T đã cộng 10.000.000 đồng trong tổng số 11.000.000 đồng tiền lãi nêu trên vào tiền gốc cho A T A vay, yêu cầu A T A trả lãi 1 tháng với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày tương ứng số tiền 900.000 đồng. Do đó, số tiền lãi trong thời gian 1 tháng đến 20% theo bộ luật dân sự cho phép là 166.667 đồng; số tiền thu lời bất chính trên 20% là 733.333 đồng. Cộng với số tiền lãi nợ trên, tổng là 1.900.000 đồng, số tiền này A T A đã chuyển khoản cho T. Tổng số tiền T cho T A vay tính đến ngày 06/02/2023 là 200.000.000 đồng. Sau thời gian này T và T A thống nhất không tính lãi nữa mà T yêu cầu T A trả tiền gốc cho mình.

Ngày 26/6/2023, T A nhờ A trai (con bác) là Lê Đức A sinh năm 1995, ở phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái sử dụng tài khoản MB có số tài khoản là 7771995777777 mang tên LE DUC A chuyển khoản trả cho T số tiền gốc là 150.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng MB có số tài khoản 3510108282222 mang tên DO TRONG TUAN, hiện tại A T A còn nợ T số tiền gốc là 50.000.000 đồng.

Như vậy từ tháng 3/2022 đến ngày 26/6/2023, T đã cho A T A vay nhiều lần với tổng số tiền 200.000.000 đồng; lãi suất là 3.000 đồng/triệu/ngày, thu về tổng số tiền lãi từ A T A là 56.700.000 đồng. Trừ 20% luật dân sự cho phép T đã thu lời bất chính tổng số tiền là 46.200.000 đồng. A T A đề nghị T phải trả lại cho T A số tiền thu lời bất chính này.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện LL và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Trọng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội cố ý gây thương tích và tội cho vay lãi nặng của mình như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSLT ngày 13/5/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện LL đã truy tố Đỗ Trọng T về tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự và tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LL đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự;
  • Tuyên bố Đỗ Trọng T phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" và tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác”.
  • Xử phạt: Đỗ Trọng T từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác”; Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 30/01/2024.
  • Xử phạt: Đỗ Trọng T từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • Về bồi thường dân sự: Xác nhận Đỗ Trọng T đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Như H số tiền 100.000.000 đồng. Nay A H không yêu cầu bồi thường gì nữa.
  • Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Pro max.
  • Tịch thu tiêu hủy 1 số mảnh thủy tinh vỡ không rõ hình, đặc điểm và 01 sim số 0988084798 vì không còn giá trị sử dụng.
  • Thu hồi của Đỗ Trọng T số tiền gốc 150.000.000 đồng để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • Thu hồi của Lê T A số tiền gốc 50.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Thu hồi sung công quỹ Nhà nước số tiền 10.500.000 đồng là số tiền bị cáo có được phát sinh từ tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự từ 1-20%;
  • Buộc bị cáo phải trả lại số tiền lãi phát sinh từ 21% đến 108% là 46.200.000 đồng cho Lê T A.
  • Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện LL, tỉnh Phú Thọ.

Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2022 đến 6/2023, Đỗ Trọng T đã cho Lê T A vay nhiều lần với tổng số tiền 200.000.000 đồng, không có thời hạn vay với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương mức lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là 20%/năm. Số tiền lãi mà T đã thu lợi trên mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự là 46.200.000 đồng. T chưa bị xử lý hành chính hay bị kết án, chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Do vậy, hành vi của Đỗ Trọng T đã phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với số tiền thu lời bất chính phải chịu trách nhiệm hình sự là 46.200.000 đồng. Các lần vay đều liên tục kế tiếp nhau về thời gian từ tháng 3/2022 đến tháng 6/2023, với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, lãi suất tương ứng 108%/năm, cao gấp 5,4 lần lãi suất mà pháp luật dân sự cho phép; Số tiền lãi thu được là 56.700.000 đồng, số tiền lãi thu lời bất chính từ 21% đến 108%/năm là 46.200.000 đồng.

[2] Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 13/10/2023, do mâu thuẫn cá nhân nên Đỗ Trọng T đã có hành vi dùng cốc thủy tinh loại uống nước đập vào đầu và tay trái của A Nguyễn Như H gây tổn thương cơ thể 15 %.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, vật chứng thu giữ được là các chứng từ sao kê tài khoản tại ngân hàng, chứng cứ sao chụp từ tin nhắn điện thoại và các đĩa CD ghi âm, ghi hình hỏi cung, cũng như lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Đỗ Trọng T dùng số tiền 200.000.000 đồng cho người có nhu cầu vay tiền là A Lê T A và số tiền thu lời bất chính từ 21% đến 108%/năm là 46.200.000 đồng,. Do vậy hành vi phạm tội lần này đủ yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự. Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

...

[4] Lời khai của bị cáo về hành vi dùng cốc thủy tinh loại uống nước đập vào đầu và tay trái của A Nguyễn Như H chỉ vì mâu thuẫn cá nhân, đã gây tổn thương cơ thể 15 % cho A H. Lời khai này hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, vật chứng thu giữ được là các mảnh thủy tinh, các đĩa CD ghi âm, ghi hình hỏi cung cũng như lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do vậy hành vi phạm tội lần này đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà cáo trạng truy tố, được xét xử về tội cố ý gây thương tích.

[5] Xét tính chất vụ án:

Hành vi cho vay lãi nặng thu lợi bất chính tuy có tính chất ít nghiêm trọng nhưng nó đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến quy định của Nhà nước về hoạt động tín dụng gây thiệt hại cho lợi ích của người vay. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo tương xứng với hành vi mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, đã ảnh hưởng đến sức khỏe con người được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[6.1] Về lỗi, nguyên nhân, điều kiện, mục đích phạm tội:

Do mục đích vụ lợi, muốn thu lời bất chính cao về hành vi cho vay lãi nặng nên bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp.

Do mâu thuẫn cá nhân, không kìm chế nên bị cáo đã hành động mất kiểm soát dùng cốc đánh, gây thương tích cho A H với lỗi cố ý trực tiếp.

[6.2] Về nhân thân của bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[6.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Đối với cả 2 tội, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với cả 2 tội danh, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Trọng T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ủng hộ bằng tiền với quỹ vì người nghèo của xã, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Đối với tội cố ý gây thương tích, quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[7] Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phạt tiền đối với tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Đối với tội cố ý gây thương tích thì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tai khoản 1 Điều 51 BLHS, do vậy cần áp dụng cho bị cáo Điều 54 BLHS để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nhưng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội và nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 của BLHS là “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Vì bị cáo bị phạt tiền là hình phạt chính tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

Về vật chứng được thu giữ trong vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điều tra thu giữ của Đỗ Trọng T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 pro max, bên trong lắp sim số 0988084798 là vật chứng để liên lạc dùng vào việc phạm tội. Điện thoại là ông cụ dùng vào việc phạm tội, do vậy cần được tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước.

Đối với một số mảnh thủy tinh vỡ không rõ hình, đặc điểm là vật chứng vụ án và sim số 0988084798 do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền cho vay (tiền gốc) 200.000.000 đồng là phương tiện phạm tội, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trả cho bị cáo 150.000.000 đồng cần thu hồi của bị cáo để sung quỹ nhà nước. Số tiền còn lại 50.000.000 đồng, bị cáo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nợ chưa trả, nay cần thu hồi để sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền lãi tương ứng mức lãi suất từ 1% đến 20%/năm là 10.500.000 đồng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên thu hồi của bị cáo để sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền lãi tương ứng mức lãi suất từ 21%/năm đến 108% là 46.200.000 đồng là khoản tiền mà bị cáo thu lợi bất chính của người vay nên cần buộc bị cáo trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[10] Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Khoản 1 Điều 201; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố Đỗ Trọng T phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".

Xử phạt: Đỗ Trọng T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. Bị cáo T được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 30/01/2024.

Xử phạt: Đỗ Trọng T số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự". Bị cáo phải nộp một lần khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ khoản 4 Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Cấm bị cáo Đỗ Trọng T đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/7/2024 cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về bồi thường dân sự: Xác nhận Đỗ Trọng T đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Như H số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Nay A H không yêu cầu bồi thường gì nữa.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Pro max.

Tịch thu tiêu hủy 1 số mảnh thủy tinh vỡ không rõ hình, đặc điểm và 01 sim số 0988084798.

Vật chứng hiện nay đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LL ngày 28/5/2024.

Thu hồi của Đỗ Trọng T số tiền gốc 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Thu hồi của Lê T A số tiền gốc 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) đồng để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Thu hồi của Đỗ Trọng T để sung công quỹ Nhà nước số tiền 10.500.000₫ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng) có được phát sinh từ tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự từ 1-20%;

Buộc Đỗ Trọng T trả lại số tiền lãi phát sinh từ 21% đến 108% là 46.200.000₫ (Bốn mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng) cho Lê T A.

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện + tỉnh;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện;
  • - Chi cục THADS; THAHS;
  • - Bị cáo, bị hại, người CQLNVLQ;
  • - Lưu VP, HS (11b)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích và cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích và Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ TRọng Tuấn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger