Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 09-5-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Phương Hạnh

2. Ông Đặng Văn Đê

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lê Anh Thơ- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh D, sinh năm: 1988, tại Bà Rịa – Vũng Tàu; đăng ký thường trú: Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện nay: không xác định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1957 và bà Dương Thị L, sinh năm 1968; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có ba anh em. Bị cáo khai có vợ Trần Thị Anh T, sinh năm 1990, con là Trần Thị Khả H2, sinh năm 2007.

Tiền án: Ngày 19/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ tuyên phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 16/4/2013 bị Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa xử pahtj 6 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 27/2013/HSST. Ngày 23/4/2018, bị Toà án nhân dân huyện Long Điền ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số17/2018/QĐ-TA.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/01/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công An thành phố B (có mặt)

2. Người chứng kiến: Ông Đào Văn D1, sinh năm 1970, địa chỉ: ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, tại hẻm S, ấp P, xã T, thành phố B, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuần tra phát hiện Nguyễn Minh D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại cơ quan Công an, Nguyễn Minh D khai nhận như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, D liên lạc qua M với một người tên “Tý T1” (không rõ lai lịch) hỏi mua ma tuý thì được hẹn đến khu vực ngã năm L để giao dịch. Sau đó D đến điểm hẹn mua của D một gói ma tuý đá với số tiền 500.000 đồng. Mua được ma túy, D lấy một ít ra sử dụng, số còn lại D cất vào bóp để trong người. Đến gần trưa ngày 15/12/2023, D đi đến phòng trọ người bạn tên D2 để mua điện thoại, khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày khi D vừa đến hẻm trên đường số I, ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì gặp tổ tuần tra của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma tuý và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố B dừng xe kiểm tra phát hiện thu giữ gói ma tuý đá D cất giấu trong ví da.

Qua xác minh, xác định người thanh niên tên D2 có lai lịch Nguyễn Văn D3, sinh năm: 1992, hộ khẩu thường trú: tổ C, ấp S, xã S, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Qua làm việc Nguyễn Văn D3 khai nhận, D3 có điện thoại muốn bán cho Nguyễn Minh D nên hẹn D đến phòng trọ ở hẻm Đ, ấp P, xã T. D3 thừa nhận có sử dụng ma tuý đá nhưng D3 không biết và không liên quan đến số ma tuý mà D cất giữ.

Kết quả xét nghiệm, Nguyễn Minh D và Nguyễn Văn D3 dương tính chất ma tuý loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 23/KL-KTHS-MT ngày 20/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu trong suốt có khối lượng 0,4939 gam, là ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 82/KL-KTHS-SKSM ngày 27/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận: phương tiện giám định số khung bị tẩy xoá, số nguyên thuỷ xác định là RRKWWCHSUM7X010926, số máy nguyên thuỷ.

Đồ vật, tài liệu tạm giữ và xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong ghi vụ số 23 ngày 21/12/2023, đóng dấu Phòng K, Công an tỉnh B, có chữ ký của Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Võ Thanh H3, Đỗ Thị Linh S, Đinh Hữu T2.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, IMEI: 869125023128973 của Nguyễn Minh D dùng liên lạc mua ma tuý.
  • - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 72N2-9442, Số máy: VTTJL1P53FMH-7010926, Số khung: không rõ. Qua giám định xác định: phương tiện giám định số khung bị tẩy xoá, số nguyên thuỷ xác định là RRKWWCHSUM7X010926, số máy nguyên thuỷ. Nguyễn Minh D khai nhận mua lại của một người không rõ lai lịch để làm phương tiện đi lại, người này nói với D xe đã bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe. Kết quả tra cứu, người đứng tên chủ phương tiện biển kiểm soát: 72N2-9442, số khung: RLHJ4319AY106960, số máy: JC43E1341182 là Nguyễn Mộng B, sinh năm:1966, trú tại A T, tổ G, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Qua xác minh, ông Nguyễn Mộng B có đăng ký thường trú ở địa chỉ trên nhưng gia đình không còn ai sinh sống tại địa phương.
  • Kết quả tra cứu số khung: RRKWWCHSUM7X010926, số máy: VTTJL1P53FMH-7010926 là của xe mang biển kiểm soát: 72V1-0467 do Nguyễn Ngọc D4, sinh năm: 1965, trú tại Thạnh Sơn B, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đăng ký đứng tên chủ sở hữu. Làm việc bà Nguyễn Ngọc D4 được biết do không còn nhu cầu sử dụng bà đã bán chiếc xe này từ năm 2010 nhưng không làm thủ tục sang tên nên không nhớ rõ đã bán cho ai. Công an thành phố B đã ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô biển kiểm soát 72N2-9442, số máy VTTJL1P53KMH-7010926, số khung RRKWWCHSUM7X010926 nhưng đến nay chưa có kết quả.
  • - 01 ví da màu đen đã cũ;

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 10 - 4 - 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo từng bị xử phạt về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Trong quá trình điều tra, xét xử vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D từ 24 tháng tù đến 36 tháng tù. Bị cáo không có việc làm ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy sau giám định; tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, IMEI: 869125023128973 của Nguyễn Minh D dùng liên lạc mua ma tuý, giao cho cơ quan điều tra Công an thành phố B 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 72N2-9442, Số máy: VTTJL1P53FMH-7010926, Số khung: không rõ để điều tra tiếp tục xử lý.

Bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, tại hẻm S ấp P, xã T, thành phố B Nguyễn Minh D đang có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,4939 gam, là ma túy, loại Methaphetamine, nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc không lấy làm bài học kinh nghiệm. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung nên cần cách ly bị cáo với xã hội một thời gian.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, xét xử vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy sau giám định; tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, IMEI: 869125023128973 của Nguyễn Minh D dùng mục đích liên lạc mua ma tuý giao cho cơ quan điều tra Công an thành phố B 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 72N2-9442, Số máy: VTTJL1P53FMH-7010926, Số khung: không rõ để điều tra tiếp tục xử lý. 01 ví da đã cũ, bị cáo đề nghị tịch thu tiêu huỷ là phù hợp nên ghi nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định.

[9] Đối với người tên Tý T1 (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho Nguyễn Minh D, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh xử lý.

Đối với Nguyễn Văn D3 không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Minh D, Công an xã T đã xử lý về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là đúng quy định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh D 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong niêm phong ghi số 23 ngày 21/12/2023, có dấu mộc đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, chữ ký của thượng tá Đỗ Ngọc Đ và Giám định viên: Võ Thanh H3, trợ lý giám định Đỗ Thị Linh S, Trần Thanh L1.

Tịch thu tiêu huỷ 01 ví da màu đen đã cũ

Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, số Imei 869125023023128973, đã cũ, màn hình bị bể, hiện tại không hoạt động được;

Giao cho Cơ quan điều tra Công an thành phố B (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu, biển số: 72N2-9442, Số máy: VTTJL1P53FMH-7010926, Số khung: RRKWCHSUM7X010926, đã cũ, hiện tại không hoạt động được, không kiểm tra máy móc bên trong để điều tra tiếp tục xử lý.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 68 ngày 12 - 4 - 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh D phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 09-5-2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Phương HạnhBùi Thị Dung
Đặng Văn Đê

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Dung

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PV 06 - Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Công an thành phố Bà Rịa;
  • - Chi cục thành phố Bà Rịa;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn thư.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger