|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST
Ngày: 08-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Anh
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Bạch Đằng
Ông Lê Đức Chạc
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Công Trình, bà Phạm Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Tới, bà Hoàng Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở:
Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ hành chính Công an huyện N, tỉnh Nam Định.
Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
Họ vào tên: Tống Văn M - sinh năm 1998 tại Nam Định; nơi cư trú: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Văn T, sinh năm 1970 và bà Trịnh Thị P, sinh năm 1975, hiện cả hai đang xã ở N, huyện N, tỉnh Nam Định; Vợ, con: Chưa có. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 27/3/2018, bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong ngày 20/01/2020. Ngày 08/6/2021, bị Toà án nhân dân huyện Nam Trực xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”. Chấp hành xong ngày 09/9/2023. Tống Văn M bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 30/5/2024, đến ngày 08/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N cho đến nay. Có mặt.
Họ vào tên: Ngô Văn K - sinh năm 1998 tại Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn D, sinh năm 1969 (Đã chết) và bà Lương Thị H1, sinh năm 1966, hiện đang ở thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định; Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 29/7/2022, bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 15 tháng. Chấp hành xong ngày 09/11/2023. Nhân thân: Ngày 05/5/2022, bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngô Văn K bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 29/5/2024 đến ngày 07/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N cho đến nay. Có mặt.
Người chứng kiến:
Chị Trịnh Thị P. Vắng mặt.
Ông Tống Văn H2. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 28/5/2024, Tống Văn M đi xe khách đến khu vực bến xe G, thành phố Hà Nội mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng. Sau đó, M đi về nhà cất giấu để bán kiếm lời. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Ngô Văn K liên lạc với Tống Văn M qua ứng dụng Messenger hỏi mua Heroine, M đồng ý và hẹn K đến khu vực thuộc xóm D, xã N để giao dịch. M chia gói H3 đã mua trước đó thành 03 gói nhỏ. Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, M bán cho K 02 gói Heroine, vỏ là giấy màu trắng với giá 400.000 đồng rồi cả hai đi về nhà. Khi K đi đến khu vực đường xã thuộc xóm D, xã N thì bị tổ công tác Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang lúc 19 giờ 30 phút cùng ngày. Thu giữ của K 02 gói nhỏ, vỏ là giấy màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M), K khai nhận là H3 cất giấu để sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, sim số 0569.032.719. Tổ công tác đã dẫn giải Ngô Văn K về Ủy ban nhân dân xã N để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N khám xét khẩn cấp nơi ở của M, thu giữ ở hiên phía Tây nhà 01 gói nhỏ, vỏ là giấy màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu K). Quá trình điều tra, thu giữ của Tống Văn M 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, có số se-ri lần lượt là MX 20100683 và PD 23365334; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng, đều không lắp sim.
Tại bản kết luận giám định số 1014/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói nhỏ, vỏ giấy màu trắng, trong phong bì thư được niêm phong kí hiệu M gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine). Tổng khối lượng mẫu M: 0,321 gam.
Tại bản kết luận giám định số 1021/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói nhỏ, vỏ giấy màu trắng, trong phong bì thư được niêm phong kí hiệu K gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu K: 0,050 gam.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Tống Văn M ngày 28/5/2024, hiện không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo Ngô Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Tống Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tống Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Ngô Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Ngô Văn K từ 21 đến 24 tháng tù; Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Tống Văn M từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma túy hoàn lại sau giám định, tịch thu số tiền 400.000 đồng thu giữ của Tống Văn M là do bán trái phép ma túy cho Ngô Văn K; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, lắp số sim 0569.032.719 thu giữ của K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng, không lắp sim thu của M. Trả lại cho M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, không lắp sim thu giữ của M. Đề nghị xử lý về việc nộp án phí theo quy định.
Không ai có ý kiến tranh luận:
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, các bị cáo ăn năn hối hận, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại khu vực đường xã thuộc xóm D, xã N, huyện N, Tống Văn M có hành vi bán trái phép cho Ngô Văn K 0,321 gam Heroine với giá 400.000 đồng. Ngô Văn K mua Heroine với mục đích về sử dụng. Ngoài ra Tống Văn M còn cất giấu 0,050 gam Heroine để bán kiếm lời. Như vậy, tổng khối lượng H3 mà Tống Văn M dùng để bán là 0,371 gam
Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Tống Văn M có 02 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chưa được xoá án tích. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự thì lần này phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, hành vi của bị cáo Tống Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm q, khoản 2, Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Ngô Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định truy tố là đúng pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên các bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Ngô Văn K có nhân thân xấu.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập nên không cần thiết phải áp dụng.
Xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử đồng ý với đề xuất xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát.
Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Tống Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Tống Văn M 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 30/5/2024.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Ngô Văn K 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 29/5/2024.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy lượng ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; tịch thu số tiền 400.000 đồng thu giữ của Tống Văn M; tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng, lắp số sim 0569.032.719 thu giữ của K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng, đã qua sử dụng, không lắp sim thu của M. Trả lại cho Tống Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng không lắp sim (Vật chứng có đặc điểm và số lượng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT - Công an huyện N với Chi cục Thi hành án huyện Nghĩa Hưng ngày 03/7/2024).
Án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Văn K và Tống Văn M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Văn Anh |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại khu vực đường xã thuộc xóm 4, xã Nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng, Tống Văn M có hành vi bán trái phép cho Ngô Văn K 0,321 gam Heroine với giá 400.000 đồng. Ngô Văn K mua Heroine với mục đích về sử dụng. Ngoài ra Tống Văn M còn cất giấu 0,050 gam Heroine để bán kiếm lời. Như vậy, tổng khối lượng Heroine mà Tống Văn M dùng để bán là 0,371 gam
