|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:47/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08-7-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Dũng
Bà Quách Thị Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Thúy - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 42/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Vũ Trung T - Sinh năm: 1982
Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Chị Phạm Thị C - Sinh năm: 1980
Đăng ký thường trú tại: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ nơi ở hiện nay: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà vắng mặt anh T và chị C, anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị C vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Vũ Trung T trình bày: Anh và chị Phạm Thị C tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 13/11/2015 tại UBND xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được tám năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau nên thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không còn tiếng nói chung, khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẫn trầm trọng nhất kể đầu năm 2023 cho đến nay, kể từ đó vợ chồng sống ly thân nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị C1.
Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị C1 có 01 con chung là Vũ Phạm Gia H; sinh ngày 10/10/2021. Ly hôn anh có nguyện vọng giao con cho chị C1 được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H cho đến khi cháu đến tuổi trưởng thành, anh cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị C1 mỗi tháng 1.5000.00đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Phạm Thị Công trình bày: Chị và anh Vũ Trung T tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 13/11/2015 tại UBND xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Về nguyên nhân mâu thuẫn quý trình hòa giải tại Tòa án chị đồng ý như ý kiến trình bày của anh C1, tại bản tự khai chị Công trình bày chị và anh T không còn ở chung với nhau nữa mà hiện tại chị và con đã chuyển về nhà em trai để ở. Nay anh Vũ Trung T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc giải quyết ly hôn với chị thì không đồng ý ly hôn chị mong muốn vợ chồng đoàn tụ.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh T có 01 con chung là Vũ Phạm Gia H; sinh ngày 10/10/2021. Nay ly hôn nguyện vọng của chị là được nuôi dưỡng cháu H đến khi cháu đến tuổi trưởng thành, chị yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).
Về tài sản chung: Chị yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản vì khi cưới chị và anh T có tiền, vàng, trâu bò, hiện tại chị chưa thu thập được tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu tài sản của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Phạm Thị C chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử cho anh Vũ Trung T được ly hôn với chị Phạm Thị C. Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Phạm Gia H; sinh ngày 10/10/2021. Đề nghị công nhận sự tự nguyện của các đương sự về việc giao nuôi con chung, giao cháu H cho chị C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đến tuổi trưởng thành. Anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị C mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Anh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở. Buộc anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Anh Vũ Trung T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với chị Phạm thị C2. Theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ chị C2 lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng chị C2 vẫn không có mặt mà không có lý do. Anh Vũ Trung T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định Điều 227, Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt anh T và chị C2.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị C2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 13/11/2015 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án anh T cho rằng: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị C2 không thể hòa giải được do anh và chị C2 trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi vã nhau nên hôn nhân không có hạnh phúc, chị C2 hiện tại đã chuyển đi nơi khác để ở, kể từ cuối năm 2023 cho đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa, từ đó vợ chồng cũng ly thân nhau, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Mâu thuẫn này của vợ chồng đã được chính quyền địa phương xác nhận và cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà Tòa án đã tiến hành thu thập. Quá trình giải quyết vụ án chị C2 thừa nhận như mâu thuẫn mà anh T đã trình bày, tuy nhiên chị vẫn muốn vợ chồng đoàn tụ vì chị còn tình cảm với anh T, nhưng anh T không thay đổi quan điểm và cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị, đến nay chị cũng không có cách nào thuyết phục được được anh T để vợ chồng quay về đoàn tụ, chị cũng không có phương pháp nào để hàn gắn tình cảm gia đình như trước được, việc anh T vẫn giữ nguyên quan điểm khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị C2, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 51 và 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Vũ Trung T được ly hôn với chị Phạm Thị C.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh T và chị C thống nhất có một con chung là Vũ Phạm Gia H; sinh ngày 10/10/2021. Ly hôn anh T và chị C đều thống nhất chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng H cho đến khi cháu trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự nên chấp nhận. Anh Vũ Trung T có quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị C yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) cho đến khi cháu H đến tuổi trưởng thành.
Tại biên bản hòa giải quá trình giải quyết vụ án anh T trình bày khi ly hôn giao con cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, anh có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị C mỗi tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm nghìn đồng) cho đến khi cháu H đến tuổi trưởng thành.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung thấy rằng: Anh C và chị T đều không thống nhất về mức cấp dưỡng nuôi con chung, tuy nhiên căn cứ vào tình hình thực tế, mức sống và thu nhập hiện tại, theo nguyện vọng của anh Vũ Trung T, Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng về mức cấp dưỡng nuôi con chung của anh T là phù hợp với tình hình thực tế nên được chấp nhận. Chị Phạm Thị C có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con đối với anh T khi có đủ căn cứ cho rằng mức cấp dưỡng hiện tại không còn phù hợp.
[5] Về chia tài sản chung: Anh Vũ Trung T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên hội đồng xét xử không xét.
Quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị Công trình bày: Chị và anh T có những tài sản chung bao gồm tiền, vàng, trâu bò quá trình chung sống anh chị tích cóp được. Quá trình giải quyết vụ án chị C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ, để chứng minh cho yêu cầu của mình, cũng trong quá trình giải quyết vụ án đến khi Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc đưa vụ án ra xét xử chị C không có ý kiến gì về yêu cầu tài sản nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này, đồng thời dành quyền cho chị khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Buộc anh Vũ Trung T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 28, 35, 39; 147;227; 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ: Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho anh Vũ Trung T được ly hôn với chị Phạm Thị C.
2. Về con chung: Giao cháu Vũ Phạm Gia H; sinh ngày 10/10/2021 cho chị Phạm Thị C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đến tuổi trưởng thành.
Anh Vũ Trung T được quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Vũ Trung T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phạm Thị C mỗi tháng 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho đến khi cháu H đến tuổi trưởng thành. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2024.
3. Về án phí: Anh Vũ Trung T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm việc ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Tổng cộng án phí mà anh T phải chịu là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004230 ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Vũ Trung T còn phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt anh T và chị C. Anh Vũ Trung T và chị Phạm Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Thành |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Quách Thị Hoàng | Lê Văn Dũng |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
