Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH-TP.HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 08/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Trần Văn Khánh

Bà Dương Thị Kim Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Mê Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Văn Q, sinh năm 1991 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q1 và bà Dương Thị M; có vợ là: Trần Thị H và 02 con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/11/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Văn B, sinh năm 1991 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị D; có vợ là: Phạm Thị H2 và 02 con lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/11/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

-Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1987, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện S, Hà Nội.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

-Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1995, có mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện S, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Văn CPhạm Văn Q cùng làm công nhân tại Công ty R nên có quen biết nhau. Khoảng tháng 6/2022, anh C vay của Q số tiền 2.000.000đồng, lãi suất thỏa thuận là 300.000đồng/năm, thời hạn trả tiền tháng 6/2023 anh C phải trả toàn bộ số tiền gốc và lãi cho Q là 2.300.000đồng. Đến hạn anh C không có tiền trả nợ nên gặp Q xin gia hạn trả nợ vào tháng 10/2023 đồng thời thỏa thuận đến thời điểm đó lãi sẽ phải trả thêm 100.000đồng, tổng cộng là 2.400.000đồng, Q đồng ý. Đến tháng 10/2023, Q nhiều lần tìm gặp C để đòi nợ nhưng C tìm cách trốn tránh không trả nợ cho Q. Sáng ngày 10/11/2023, Q đăng nhập mạng xã hội Facebook thấy tài khoản “Đức Chung” của anh C đăng bán xe máy Sirius nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe này bán để đòi nợ. Để không bị anh C tránh mặt nên Q nhờ anh Nguyễn Văn T làm cùng công ty sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn Văn T” giả là người muốn mua xe. Sau đó anh T hẹn gặp anh C ở cổng Công ty A (Khu Công nghiệp Q, huyện M, thành phố Hà Nội) để xem xe, anh C đồng ý. Khoảng 19h cùng ngày, Q dùng điện thoại nhãn hiệu Iphone XR gọi điện cho Nguyễn Văn B (là em rể của Q) rủ B đi gặp anh C để lấy xe đòi nợ, B đồng ý. Sau đó, B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 30N5 – 3150 của mình đến nhà Q chở Q đi đến chỗ hẹn ở khu vực cổng Công ty A. Đến nơi, Q nhìn thấy anh C đang ngồi trên chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển kiểm soát 38H1 – 08671 đỗ bên ven đường. Thấy vậy, QB liền điều khiển xe mô tô đi đến vị trí anh C đang đứng, Q xuống xe nói với anh C: “mày trả tiền tao không”, anh C trả lời: “giờ chưa có tiền”. Ngay lập tức Q dùng tay trái rút chìa khóa xe và đẩy anh C khỏi xe làm anh C loạng choạng ngã xuống ruộng lúa ven đường. Khi anh C bò được lên đường và nói với Q chở về phòng trọ để nói chuyện nhưng Q không đồng ý. Anh C tiếp tục dùng tay bám vào đuôi xe để giữ xe không cho lấy nhưng Q lại xô đẩy làm anh C bị ngã, xe máy đổ và chiếc mũ bảo hiểm móc trên xe rơi xuống đường. Quyết định dắt xe đi thì anh C tiếp tục dùng tay bám vào đuôi xe kéo lại. Q liền nhặt chiếc mũ bảo hiểm đánh trúng vào tay của anh C. Thấy anh C chống cự không cho lấy xe, Ba hô: “mày không được chống đối” đồng thời nhặt một cục bê tông kích thước khoảng (15x20x7)cm ở ria đường hai tay cầm giơ lên ném về phía người anh C nhưng không trúng. Lúc này, anh C vẫn tiếp tục giữ xe kiên quyết không cho lấy thì bị Ba đe dọa “rút dao đâm chết mẹ nó đi”, anh C nghe thấy vậy sợ lùi lại. Sau đó, Q điều khiển xe máy hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển kiểm soát 38H1 -08671 vừa chiếm đoạt được của anh C đem về nhà cất giấu còn B đi xe của mình về nhà. Đến ngày 11/11/2023, Phạm Văn QNguyễn Văn B bị Cơ quan Công an bắt giữ.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Phạm Văn Q:

  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, sơn màu đỏ đen, số máy 5C6K020190, số khung RLCS5C6K0DY020171, biển kiểm soát: 38H1-08671;
  • + 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X, màu đen, bên trong lắp sim số 0979786313;

Thu giữ của Nguyễn Văn B:

  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, sơn màu nâu, biển kiểm soát 30N5 – 3150; số khung RLHHA0801AY057654, số máy HA08E1357707;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu đỏ có số seri F4GXLAF0KXL3, số I: 357375091107024, bên trong lắp sim số: 0983920141;

Thu giữ của Nguyễn Văn C: 01 mũ bảo hiểm loại kín đầu màu đen không còn kính chắn gió.

Thu giữ của Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiện Iphone 7 vỏ màu đen, I: 352843082424744, bên trong lắp sim số: 0976497471.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận:

“01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, số máy 5C6K020190, số khung RLCS5C6K0DY020171, biển kiểm soát: 38H1 – 08671 có trị giá là 6.800.000 đồng”.

Quá trình điều tra, xác định chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, sơn màu đỏ đen, số máy 5C6K020190, số khung RLCS5C6K0DY020171, biển kiểm soát: 38H1-08671 mang tên Nguyễn Thị V (sinh năm 1982), anh C mua tháng 7/2023, tra cứu chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe trên và 01 mũ bảo hiểm loại kín đầu màu đen không còn kính chắn gió cho anh C là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 cục bê tông kích thước khoảng (15x20x7)cm ở ria đường mà Nguyễn Văn B nhặt cầm ném về phía người anh C. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các đối tượng đã vứt ở ria đường nhưng không rõ vị trí cụ thể nên không truy tìm được.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn T nhắn tin hẹn gặp anh Nguyễn Văn C do anh T không biết mục đích Q đi cướp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý về hình sự. Đồng thời Cơ quan điều tra cũng trao trả cho Nguyễn Văn T chiếc điện thoại Iphone 7 vỏ màu đen, bên trong lắp sim số: 0976497471 thu giữ trong quá trình điều tra.

Đối với hành vi của Phạm Văn Q cho anh C vay tiền, quá trình điều tra không có căn cứ để xác định hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập về xử lý về hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã tóm tắt trên, các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Người bị hại là anh Nguyễn Văn C trình bày tại BL 183-202: Anh C xác nhận toàn bộ sự việc như nội dung vụ án đã tóm tắt trên. Sau khi sự việc xảy ra, các bị cáo đã đến gia đình anh xin lỗi, tài sản là chiếc xe máy bị các bị cáo chiếm đoạt anh đã được nhận lại. Do vậy, anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự và anh có đơn đề nghị xem xét miễn giảm trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 01/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố Phạm Văn B1Nguyễn Văn Q2, về tội “ Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “ Cướp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng : điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Phạm Văn Q mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Xử phạt: Nguyễn Văn B mức án từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tang vật chứng: Trả lại cho bị cáo Ba 01 xe máy BKS 30N5-3150.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Do anh Nguyễn Văn C nợ tiền của Phạm Văn Q, mặc dù Q đã đòi nhiều lần nhưng anh C không trả nên khoảng 20h ngày 10/11/2023, tại khu vực cổng Công ty A thuộc khu Công nghiệp Q, huyện M, Hà Nội, Phạm Văn QNguyễn Văn B đã có hành vi dùng mũ bảo hiểm đánh anh C và nhặt cục bê tông ở ria đường ném đe dọa anh C để chiếm đoạt của anh C 01 xe máy BKS 38H1-086.71 có trị giá 6.800.000đ. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “ Cướp tài sản” với tình tiết định khung “ Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” quy định điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố các bị cáo về tội “ Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Do đó, việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có đơn đề nghị xem xét miễn giảm trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, gia đình các bị cáo là gia đình có công với cách mạng cũng như chính quyền địa phương nơi cư trú. Do đó, cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Q là người khởi xướng giữ vai trò đầu vụ. Bị cáo B là đồng phạm giúp sức tích cực.

Căn cứ vào tính chất vụ án nhận thấy nguyên nhân dẫn đến việc các bị cáo phạm tội xuất phát từ việc người bị hại là anh C nợ tiền bị cáo Q, mặc dù bị cáo Q đã đòi nhiều lần nhưng anh C khất lần không trả nên mới dẫn đến việc các bị cáo thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của anh C để trừ nợ. Do vậy, trong vụ án này anh C cũng là người có một phần lỗi. Mặc dù xét nhân thân của các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nhưng căn cứ vào loại tội các bị cáo vi phạm là tội rất nghiêm trọng nên thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Tuy nhiên xét hiện các bị cáo đều làm công nhân, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4]. Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra người bị hại là anh Nguyễn Văn C không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5]. Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện M có thu giữ của bị cáo Q: 01 điện thoại Iphone X. Thu giữ của bị cáo Ba: 01 xe máy BKS 30N5-3150 và 01 điện thoại Iphone XR.

Xét 02 điện thoại là phương tiện các bị cáo sử dụng để liên lạc vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Còn 01 xe máy BKS 30N5-3150 bị cáo Ba sử dụng để chở bị cáo Q đi đòi nợ. Tại phiên tòa bị cáo B và chị Phạm Thị H2 là vợ bị cáo B đều khai nhận chiếc xe máy này là tài sản chung của vợ chồng, việc bị cáo B sử dụng chiếc xe máy chở bị cáo Q đi đòi nợ chị H2 không biết. Tại phiên tòa vợ chồng bị cáo B đều đề nghị xin lại chiếc xe nên thấy cần trả lại chiếc xe máy này cho gia đình bị cáo B.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Phạm Văn Q 07 (bẩy) năm 02 (hai) tháng tù, về tội “ Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2023.

Xử phạt: Nguyễn Văn B 07 (bẩy) năm tù, về tội “ Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2023.

Trả lại chị Phạm Thị H2 (vợ bị cáo Nguyễn Văn B) 01 xe máy BKS 30N5-3150.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động.

(Tình trạng tang vật như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh).

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo được quyền kháng cáo. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • -VKSND huyện Mê Linh.
  • -Chi cục THADS huyện Mê Linh.
  • -Công an huyện Mê Linh.
  • -Tòa án Hà Nội.
  • -VKSND TP.Hà Nội.
  • -Trại giam Hà Nội.
  • -Bị cáo .
  • -Đương sự.
  • -Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP. HÀ NỘI về cướp tài sản

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do cho vay tiền không đòi được nên Quyết rủ Ba đi cướp tài sản của anh H về trừ nợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger