Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HSST

Ngày: 07-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Quốc Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Xuân Quan

2. Bà Đinh Thị Mỹ Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Lê Như Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, đối vơi bị cáo:

NGUYỄN MINH T;

Sinh năm: 2002, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1977 và bà Đoàn Thị Mỹ H, sinh năm: 1981; Vợ con: Chưa có; Tiền sự - Tiền án: Không;

Nhân thân:

  • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23784/QĐ-XPVPHC ngày 12/11/2020 của Công an thị xã L, Nguyễn Minh T2 bị xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
  • + Tại Bản án số 03/2021/HSST ngày 14/01/2021 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, Nguyễn Minh T2 bị xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đến ngày 01/01/2022 thì chấp hành xong án phạt tù. Nguyễn Minh T2 bị kết án về tội ít nghiêm trọng và tại thời điểm phạm tội, T2 chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/01/2024; Bị tạm giữ từ ngày 11/01/2024 đến ngày 20/01/2024; Hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 18/2024/HSST-LCCT ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân thị xã La Gi (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý, nên vào khoảng 22 giờ ngày 09/01/2024, bị cáo Nguyễn Minh T2 đi từ nhà ở thôn T, xã T, thị xã L đến khu vực vòng xoay rừng dầu thuộc xã T, thị xã L gặp và mua từ một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) 12 tép ma túy đá được đựng bên trong 01 hộp nhựa màu đỏ với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T2 mang về nhà cất giấu tại góc tường dưới tấm nệm trong phòng ngủ của T2. Đến tối ngày 10/01/2024, T2 lấy 01 tép ma túy ra sử dụng, số ma tuý còn lại T2 cất vào chỗ cũ. Đến khoảng 09 giờ 50 phút ngày 11/01/2024, khi T2 đang ở nhà một mình thì có lực lượng Công an xã T đi tuần tra, do lo sợ bị phát hiện nên T2 bỏ chạy khoảng 50 mét thì bị bắt giữ. Sau đó, Công an xã T đưa T2 về nhà kiểm tra thì phát hiện T2 đang cất giấu 11 tép ma túy trong phòng ngủ của T2 nên đã lập biên bản bắt quả tang, thu giữ tang vật và chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã L để xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số 65/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,9431 gam; là Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ gồm: 11 đoạn ống nhựa màu trắng đều đã cắt lấy mẫu cùng 0,8559 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 65 và 01 hộp nhựa màu đỏ, kích thước (8,5 x 03 x 2,5)cm hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý.

Tại bản cáo trạng số: 55/CT-VKSLG-HS ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Minh T2, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh T2 và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T2, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Phạt bị cáo Nguyễn Minh T2, mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù
  • * Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 65 của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 hộp nhựa màu đỏ, kích thước (8,5 x 03 x 2,5)cm

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T2 khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Bị cáo Nguyễn Minh T2 không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.

- Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Minh T2: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Tại tòa, bị cáo Nguyễn Minh T2 thừa nhận nội dung quyết định truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội; lời khai nhận của bị cáo là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà. Vì vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Vào lúc 09 giờ 50 phút ngày 11/01/2024, tại nhà thuộc thôn T, xã T, thị xã L, bị cáo Nguyễn Minh T2 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,9431 gam ; là Methamphetamine để sử dụng, thì bị Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo T2 khai nhận toàn bộ số ma túy mà công an thu giữ là của bị cáo, nguồn gốc số ma tuý này do bị cáo mua của 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực vòng xoay rừng dầu thuộc xã T, thị xã L, với giá 1.000.000 đồng vào ngày 09/01/2024. Sau khi mua được ma tuý bị cáo sử dụng một tép, số còn lại bị cáo cất giấu tại nhà thì bị phát hiện bắt giữ như đã nêu trên.

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Minh T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng số: 55/CT-VKSLG-HS ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Minh T2 về tội danh, điều luật áp dụng nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh T2, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, thế nhưng bị cáo không chí thú làm ăn lương thiện, để lo cho bản thân, phụ giúp cho gia đình, mà sa vào con đường nghiện ngập. Mặc

dù bị cáo biết rõ ma túy đá (Methamphetamine) là loại biệt dược độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe của người sử dụng, tệ nạn ma túy còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập của mình, bị cáo đã bất chấp pháp luật, đi mua ma tuý về cất giấu để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh T2 là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, cũng như để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo, để bị cáo an tâm chấp hành án, sớm hoà nhập cộng đồng, xã hội, trở về đoàn tụ cùng gia đình, đồng thời thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 11 đoạn ống nhựa màu trắng, đều được hàn kín hai đầu, mỗi đoạn ống nhựa kích thước (01 x 02)cm, đều đã cắt lấy mẫu và 0,8559 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong bì số 65 của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 hộp nhựa màu đỏ, kích thước (8,5 x 03 x 2,5)cm. Xét, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo Nguyễn Minh T2, có đặc điểm nhận dạng như bị cáo khai, do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, ngoài ra không có thông tin gì khác, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L không đủ căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Minh T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T2, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

[2] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T2 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/01/2024 đến ngày 20/01/2024.

[3] Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong số 65 của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 hộp nhựa màu đỏ, kích thước (8,5 x 03 x 2,5)cm. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2024, giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã L và Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.

[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T2 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Minh T2 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Từ Quốc Thái Bình

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HSST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 47/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger