Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG HÒA

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 06 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Văn Cương và ông Ma Vĩnh Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Diệu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Ngô Xuân T, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 25/01/1983, tại xã M, huyện Q, tỉnh Cao Bằng;

Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã M, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Ngô Xuân N (đã chết) và bà Lương Thị H, sinh năm 1958; Vợ: Phan Thị L, sinh năm 1988 (đã ly hôn); Con: 01 con sinh năm 2008. Tiền án: Không có;

Tiền sự: Có 01 tiền sự. Ngày 22/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, Cao Bằng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, theo Quyết định số 19/QĐ-TA.

Đặc điểm nhân thân:

+ Ngày 17/02/2005 bị Công an huyện P (nay là Q), Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền về hành vi đánh nhau hoặc súi giục đánh nhau theo Quyết định số 12/QĐ.

+ Ngày 25/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện P (nay là Q), Cao B xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 33/2019/HSST.

+ Ngày 08/7/2021 bị Công an huyện Q, Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức cảnh cáo theo Quyết định số 94/QĐ-XPHC.

+ Ngày 25/10/2021 bị Công an huyện Q, Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền về hành vi chiếm đoạt tài sản theo quyết định số 128/QĐ-XPHC.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Cao Bằng theo Quyết định tạm giam số 959/2024/HSST-QĐTG ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa. (Có mặt)

2. Phan Văn T1, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 04/11/1992, tại huyện T, tỉnh Cao Bằng;

Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Phan Văn T2, sinh năm 1967 và bà Hà Thị H1, sinh năm 1972; Vợ: Đinh Thị Hải Y, sinh năm 1994 (đã ly hôn); Con: 01 con sinh năm 2013. Tiền án: 01 tiền án. Ngày 19/4/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 23.000.000 đồng về Tội đánh bạc theo Bản án số 07/2024/HSST. Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 05/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thạch An, Cao Bằng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, theo Quyết định số 06/2021/QĐ-TA.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Cao Bằng theo Quyết định tạm giam số 958/2024/HSST-QĐTG ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 25 phút ngày 29/5/2024, Tổ công tác do Công an xã M chủ trì phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện Q và Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế T3 thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực Đoỏng Coóc thuộc xóm T, xã M, huyện Q, Cao Bằng thì phát hiện trong bụi cây ở cạnh đường đối tượng Ngô Xuân T, sinh năm 1983, trú tại xóm T, xã M, huyện Q (là người nghiện ma túy) đang có biểu hiện nghi vấn thực hiện hành vi phạm tội về ma túy. Tổ công tác đã tiến lại gần vị trí của T để kiểm tra. Khi phát hiện lực lượng chức năng thì T bỏ chạy. Tổ công tác phân công lực lượng kiểm tra nơi vị trí T ngồi, đồng thời cử lực lượng tiến hành truy đuổi T. Kết quả tại vị trí T ngồi trong bụi cây phát hiện trên mặt đất cạnh gốc cây có 03 xilanh chưa qua sử dụng; 01 lọ nước cất và 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bên trong có 02 gói nhỏ (trong đó 01 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng; 01 gói được gói bằng nilon màu trắng có hàn nhiệt), bên trong cả 02 gói đều chứa chất cục, bột màu trắng nghi là ma túy. Cùng lúc đó lực lượng truy đuổi giữ được Ngô Xuân T cách vị trí ban đầu khoảng 50m và áp giải Trường T4. Qua khai thác T khai nhận đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì phát hiện lực lượng chức năng nên đã bỏ chạy, tất cả các đồ vật lực lượng chức năng phát hiện trên mặt đất tại gốc cây nói trên đều là của T. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói nilon màu trắng bên trong đều chứa cục chất bột màu trắng; 03 xilanh; 01 lọ nước cất và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím, màu đỏ đen đã qua sử dụng.

Hồi 15 giờ 15 phút ngày 29/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, phương tiện, công trình liên quan của Ngô Xuân T tại xóm T, xã M, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 29/5/2024 tại Phòng K Công an tỉnh C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Ngô Xuân T, kết quả: 01 gói được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng có khối lượng: 0,1360gam; 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng có khối lượng: 0,1202 gam.

Tại Bản kết luận giám định số 308/K1-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 08 giờ ngày 29/5/2024, tại nhà ở của T, T và Phan Văn T1, sinh năm 1992, trú tại Đ, T, Cao B đang ngồi uống nước thì T1 nảy sinh ham muốn sử dụng ma túy nên T1 có hỏi T “anh biết chỗ nào lấy hàng không? Lấy một ít về chơi” (ý nói có biết chỗ mua ma túy không, tìm mua về sử dụng), T trả lời “anh có ba trăm rồi, em góp thêm hai trăm để mua con năm trăm”. T1 đồng ý và góp số tiền 200.000 đồng, T góp 300.000 đồng. Sau khi góp tiền xong T bảo T1 ở nhà đợi rồi lấy xe máy điện của bà Lương Thị H2 (mẹ của T) ra khỏi nhà. Đi được một đoạn thì xe hết điện nên T dựng xe ở cạnh đường và vẫy xe đi nhờ một người đàn ông không quen biết đi đến trước cổng Trung tâm y tế huyện Q. Đến nơi, T thấy có một người đàn ông không quen biết đứng ở bên đường nhìn giống người nghiện ma túy. T đi đến và hỏi “anh ơi biết chỗ đi lấy giúp em năm trăm”, người đàn ông trả lời “ừ”. T đưa cho người đàn ông đó số tiền 500.000 đồng bao gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Người đàn ông cầm số tiền và điều khiển xe máy đi đâu đó khoảng 15 phút thì quay lại đưa cho T 01 gói ma tuý được gói bằng lớp nilon màu trắng hàn nhiệt. T nhận gói ma tuý cất vào trong túi quần bên phải rồi ra đường vẫy nhờ xe một người đàn ông lạ mặt đi về. Đến gần miếu T5 thuộc xóm T, M thì T xuống xe, mang theo gói ma túy đi vào bụi cây đằng sau miếu T5 mục đích chia ma túy và sử dụng. Khi vào bụi cây T lấy gói ma tuý mua được ra dùng tay bẻ đôi cục ma tuý thành hai phần. Phần nhiều hơn gói lại bằng giấy bạc màu vàng đây là phần ma túy của T. Còn phần ít hơn gói lại bằng mảnh nilon màu trắng ban đầu, đây là phần ma túy chia cho T1. Sau đó T lấy tờ tiền mệnh giá 2000đ gói chung hai gói lại với nhau. Cùng lúc đó T nhìn thấy có lực lượng Công an đang đi đến gần vị trí của mình nên hoảng sợ, vội cất gói ma tuý vào dưới gốc cây, vùi lớp lá khô lên trên và bỏ chạy khoảng 50m thì bị bắt giữ. Còn Phan Văn T1 đợi ở nhà của T được một lúc thì có Công an xã M mời lên làm việc. Lúc này T1 mới biết T đã bị lực lượng chức năng bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau đó T1 bị Công an giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Quá trình điều tra Ngô Xuân T và Phan Văn T1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của Ngô Xuân T phù hợp với lời khai của Phan Văn T1 và phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 45/CT-VKSQH ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng quyết định truy tố bị cáo Ngô Xuân T và Phan Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Ngô Xuân T và Phan Văn T1 thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Ngô Xuân T và Phan Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và trình bày quan điểm về nguyên nhân phạm tội và hướng giải quyết vụ án như sau: Mặc dù nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị xã hội lên án, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên các bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Xuân T.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Văn T1.

Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo Ngô Xuân T và Phan Văn T1 từ 01 năm đến 02 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ ngày 29/5/2024 của các bị cáo Ngô Xuân T và Phan Văn T1 còn lại sau khi đã trích mẫu đi giám định, giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu, 03 xi lanh và 01 lọ nước cất. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bị cáo T sử dụng để gói ma túy. Trả cho bị cáo Ngô Xuân T 01 điện thoại di động loại bàn phím bấm nhãn hiệu Nokia vỏ màu đỏ đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo Ngô Xuân T và Phan Văn T1 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: Lời khai của các bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét chỗ ở và vật chứng thu giữ.

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh: Ngày 29/5/2024 tại nhà ở của Ngô Xuân T, T và T1 cùng nhau góp tiền mục đích để đi mua ma tuý về sử dụng. T góp 300.000 đồng, còn T1 góp 200.000 đồng. Sau đó T cầm tiền, một mình đi nhờ xe một người đàn ông không quen biết đến cổng Trung tâm y tế huyện Q gặp và mua với một người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng. Mua được ma tuý Trường quay về đến gần miếu T5 thuộc xóm T, M, Q rồi ra sau miếu chia gói ma túy vừa mua được thành 02 gói. Trong đó 01 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng có khối lượng 0,1360 gam Heroine là của T; 01 gói được gói bằng nilon màu trắng có hàn nhiệt có khối lượng 0,1202 gam Heroine là phần của T1. Sau đó, dùng tờ tiền mệnh giá 2000 đồng gói lại. Khi vừa gói xong thì thấy lực lượng chức năng đến gần nên T cất giấu vào gốc cây, vùi lá khô lên trên rồi bỏ chạy được khoảng 50m thì bị lực lượng chức năng bắt giữ. Còn Phan Văn T1 sau đó bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công bàn bạc cụ thể mà bộc phát nảy sinh phạm tội, cùng hướng đến một mục đích chung là có ma túy để sử dụng. Bị cáo T1 là người khởi xướng còn bị cáo T là người trực tiếp đi mua ma túy do đó bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số ma túy đã thu giữ ngày 29/5/2024. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo Ngô Xuân T và Phan Văn T1 đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội để có ma túy sử dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết tội các bị cáo Ngô Xuân T và Phan Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Các bị cáo Ngô Xuân T và Phan Văn T1 có nhân thân xấu, mặc dù đã từng bị kết án, bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Xuân T và Phan Văn T1 thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bố bị cáo T là ông Ngô Xuân N được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo T được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Ngày 19/4/2024 bị cáo Phan Văn T1 bị Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 23.000.000 đồng về Tội đánh bạc theo Bản án số 07/2024/HSST. Bị cáo T1 bị kết án chưa chấp hành xong phần hình phạt của bản án mà còn phạm tội mới do đó bị cáo T1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, đi ngược lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phải cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Các nhận định khác: Nguồn gốc số ma túy, bị cáo Ngô Xuân T khai mua với một người đàn ông không biết tên và địa chỉ tại cổng Trung tâm y tế huyện Q. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, danh tính của người bán ma tuý cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q không có căn cứ mở rộng vụ án.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nguồn thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi “Số: 308/KL-KTHS. H3 lại mẫu sau giám định vụ Ngô Xuân T và Phan Văn T1 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bắt ngày 29/5/2024” và 03 xi lanh và 01 lọ nước cất thu giữ của bị cáo T ngày 29/5/2024. Số vật chứng này là loại nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu vụ Ngô Xuân T và Phan Văn T1 và tờ tiền Ngân hàng N1 mệnh giá 2000đ”. Đối với giấy gói và vỏ niêm phong là vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, đối với tờ tiền 2.000 đồng bị cáo T dùng để gói ma túy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động loại bàn phím bấm, nhãn hiệu NOKIA, màu đỏ đen là điện thoại của bị cáo Ngô Xuân T. Bị cáo khai nhận đây là điện thoại của bị cáo dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp.

[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Các bị cáo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân TPhan Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Xuân T. Xử phạt bị cáo Ngô Xuân T 15 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/5/2024;

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Văn T1. Xử phạt bị cáo Phan Văn T1 18 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/5/2024;

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

    + 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi “Số: 308/KL-KTHS. H3 lại mẫu sau giám định vụ Ngô Xuân TPhan Văn T1 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bắt ngày 29/5/2024”

    + 03 xi lanh và 01 lọ nước cất thu giữ của bị cáo T ngày 29/5/2024.

    + Giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu chứa trong 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu vụ Ngô Xuân TPhan Văn T1 và tờ tiền Ngân hàng N1 mệnh giá 2000đ”.

    - Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước một tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng thu giữ của bị cáo T ngày 29/5/2024 chứa trong 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu vụ Ngô Xuân TPhan Văn T1 và tờ tiền Ngân hàng N1 mệnh giá 2000đ".

    - Trả cho bị cáo Ngô Xuân T 01 điện thoại di động loại bàn phím bấm, nhãn hiệu NOKIA, màu đỏ đen, vỏ ốp sau của điện thoại bị nứt vỡ nhiều vị trí không rõ hình, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

    Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/8/2024.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Ngô Xuân TPhan Văn T1 mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Các bị cáo Ngô Xuân TPhan Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - Sở tư pháp;
  • - Phòng hồ sơ – CA tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - Công an xã Mỹ Hưng;
  • - Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế Tà Lùng;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THA dân sự huyện;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: Án văn, THA hình sự và HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Xuân T và Phan Văn T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger