Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/DS-ST

Ngày: 06 – 8 – 2024

V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tùng Dương.
  2. Ông Nguyễn Văn Hành.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 46/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp "Hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần P (O).

Trụ sở chính. Số 41 (Tầng trệt, tầng lửng, tầng 1, tầng 2 của Tòa nhà) và số D, đường L, phường B, quận A, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lý Hải Q - Chức vụ Giám đốc Chi nhánh kiêm Giám đốc RB Ngân hàng TMCP P - Chi nhánh S (Theo văn bản uỷ quyền số 16/2023/UQ-CT.HĐQT ngày 14/03/2023 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP P).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Q: Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1986 (Có mặt).

Địa chỉ: Số E, T, phường C, thành phố S, tỉnh S.

- Bị đơn:

  1. Ông Mai Văn Đ, sinh năm 1962 (Có mặt).
  2. Bà Châu Thị T1, sinh năm 1964 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 15/01/2024, đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần P (O) trình bày:

Vào ngày 27/6/2022, Ngân hàng TMCP P – Chi nhánh S với vợ chồng ông Mai Văn Đ, bà Châu Thị T1 có ký hợp đồng tín dụng số 0600/2022/HĐTD-OCB-CN. Với nội dung cụ thể như sau:

  • - Số tiền vay: 260.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi triệu đồng).
  • - Thời hạn vay: 120 tháng.
  • - Mục đích vay: Vay tiêu dùng.

Trong 03 tháng đầu: Lãi suất vay 10,5%/năm. Từ tháng 04 trở đi, áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần (sau đây gọi là kỳ điều chỉnh lãi suất), kỳ điều chỉnh lãi đầu tiên vào ngày 29/09/2022 theo công thức tính lãi như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở (1) + Biên độ lãi suất (2). Trong đó: Lãi suất cơ sở (1) là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được OCB ban hành từng thời kỳ; Biên độ lãi suất (2): tối thiểu 3.9% /năm.

- Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên: Thửa đất số 1341; tờ bản đồ số 3; diện tích: 101,3m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 757713, số vào số cấp GCN: CH04554 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/04/2022. Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0600/2022/BĐ ngày 27/6/2022 giữa OCB với ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 tại Văn phòng C, tỉnh Sóc Trăng, số công chứng 1528, quyền số 03/2022TP/CC-SCC/HĐGD, đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tổng số nợ của ông Mai Văn Đ, bà Châu Thị T1 theo Hợp đồng tín dụng số 0600/2022/HĐTD- OCB-CN ngày 27/06/2022 tạm tính đến ngày 06/8/2024 là 227.524.218 đồng Trong đó:

  • - Nợ gốc: 216.600.000 đồng;
  • - Nợ lãi:
    • + Lãi trong hạn: 10.451.738 đồng;
    • + Lãi quá hạn: 472.480 đồng.

Nay Ngân hàng TMCP P yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Buộc ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P tổng số nợ tạm tính đến ngày 06/8/2024. Trong đó: Nợ gốc 216.600.000 đồng, nợ lãi 10.924.218 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là 227.524.218₫ (Hai trăm hai mươi bảy triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, hai trăm mười tám đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng.

- Nếu ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì tài sản đảm bảo được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ.

Bị đơn ông Mai Văn Đ trình bày:

Ông Mai Văn Đ thừa nhận có nợ Ngân hàng O số tiền như Ngân hàng đã trình bày. Do làm ăn thất bại nên ông Đ xin trả dần như sau: Đóng gốc và lãi theo thỏa thuận hàng tháng trong hợp đồng. Còn tiền nợ lãi sẽ trả dần hàng tháng ít nhất 1.000.000₫ (Một triệu đồng).

Bị đơn bà Châu Thị T1 không có lời trình bày do vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc đại diện Ngân hàng O yêu cầu ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 thanh toán số tiền vốn và lãi còn nợ là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Trong vụ án này, nguyên đơn Ngân hàng TMCP P (O) khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán dứt nợ. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp "Hợp đồng tín dụng".

- Bị đơn bà Châu Thị T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa, đương sự có mặt và đại diện Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

Ngày 27/6/2022, ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 có vay tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần P - Chi nhánh S với số tiền vay là 260.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi triệu đồng).

Để đảm bảo cho khoản nợ vay ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 đã thế chấp phần đất có diện tích 101,3m², tại thửa số 1341; tờ bản đồ số 3, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 757713, số vào số cấp GCN: CH04554 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/04/2022, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S. Theo Hợp đồng thế chấp số 0600/2022/BĐ ngày 27/6/2022.

Xét về hợp đồng tín dụng ngày 27/6/2022 giữa Ngân hàng với ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 là hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức nên căn cứ theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án công nhận hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần P - Chi nhánh S với ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 là hợp pháp.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 đã không thực hiện đúng như hợp đồng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần cử cán bộ trực tiếp đến gặp mặt để đôn đốc việc thực hiện hợp đồng nhưng đến nay số nợ đã quá hạn mà vẫn chưa thanh toán. Việc ông Đ và bà T1 không trả nợ gốc và lãi đúng hạn, không những vi phạm các điều khoản cam kết về nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng mà còn vi phạm các quy định tại Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự và Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó Ngân hàng TMCP P ủy quyền cho Giám đốc chi nhánh tại Sóc Trăng khởi kiện yêu cầu ông Đ và bà T1 thanh toán toàn bộ số dư nợ tạm tính đến ngày 06/8/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là: 227.524.218₫ (Hai trăm hai mươi bảy triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, hai trăm mười tám đồng) là có căn cứ.

Về xử lý tài sản thế chấp: Thửa đất số 1341, tờ bản đồ số 3, diện tích 101,3m², Loại đất ở nông thôn. Tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S. Hiện do ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 đang quản lý, sử dụng. Trong trường hợp ông Đ và bà T1 không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Luật thi hành án dân sự để thu hồi nợ.

[3] Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí. Tuy nhiên các bị đơn thuộc trường hợp được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1/ Buộc ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần P tổng số tiền gốc và lãi là: 227.524.218₫ (Hai trăm hai mươi bảy triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, hai trăm mười tám đồng). Trong đó tiền gốc: 216.600.000₫ (Hai trăm mười sáu triệu, sáu trăm nghìn đồng) và tiền lãi: 10.924.218₫ (Mười triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, hai trăm mười tám đồng) (tính đến ngày xét xử sơ thẩm 06/8/2024).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (06/8/2024) ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất vì vậy lãi suất mà ông Đ, bà T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần P cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp theo từng thời điểm thanh toán.

2/ Về tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xử lý tài sản thế chấp: Thửa đất số 1341, tờ bản đồ số 3, diện tích 101,3m², Loại đất ở nông thôn. Tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S. Thửa đất có vị trí tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp thửa 1232 và thửa 940 có số đo: 12,10m + 10,01m;
  • - Hướng Tây giáp thửa 1340 có số đo 18,44m;
  • - Hướng Nam giáp đường bê tông có số đo: 6,06m;
  • - Hướng Bắc giáp thửa 1340 có số đo: 5,00m;

Tổng diện tích: 101,3m². Loại đất ở nông thôn.

3/ Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp:

- Ngân hàng thương mại cổ phần P không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp.

- Ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 liên đới chịu 800.000₫ (Tám trăm nghìn đồng). Số tiền này ông Đ, bà T1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại cho Ngân hàng.

4/ Về án phí:

- Ông Mai Văn Đ và bà Châu Thị T1 thuộc trường hợp miễn nộp án phí được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Ngân hàng thương mại cổ phần P không phải nộp án phí sơ thẩm. Ngân hàng được nhận lại 5.870.810đ (Năm triệu, tám trăm bảy mươi nghìn, tám trăm mười đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002412 ngày 29/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 26 và 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THA huyện Trần Đề;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA);
  • - Các đương sự.
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 47/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng O yêu cầu ông Đ thanh toán số tiền 227.524.218đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger