Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 05-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

———

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Mai và bà Trần Thị Phương Thảo.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hoàng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/TLST-HS, ngày 13 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm 1986 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Bon U, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: công nhân cơ khí; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1951 và bà Lâm Thị H, sinh năm 1955; chưa có vợ, con; tiền án: Tại bản án số 15/2019/HS-ST ngày 14-6-2019 bị Toà án nhân dân huyện Cư Jút xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, chưa được xoá án tích; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-02-2024; có mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1989; địa chỉ: Bon U, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 1981; địa chỉ: Bon U, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lâm Thị H; địa chỉ: Bon U, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 3/2023, Nguyễn Văn N góp vốn mua cây cảnh với Nguyễn Văn Đ1 bán lại kiếm lời nhưng xảy ra mâu thuẫn về tiền bạc. Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 19-2-2024, sau khi uống rượu, N đến nhà Đ1 đề hỏi về số tiền đầu tư thì hai bên xảy ra mâu thuẫn, xô xát. Đến 18 giờ 00 cùng ngày, Nam đang chuyện với ông Nguyễn Văn P (bố của N) thì Nguyễn Thị T (em ruột của N) và bà Lâm Thị H (mẹ của N) đi làm về, T nghe N nói chuyện làm ăn nhưng Đ1 không trả tiền, sau đó giữa N và T xảy ra cãi vã, xô xát. Tức giận N lấy 01 con dao đài 22,5 cm, mũi nhọn, cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao dài 11,5 cm đi ra chỗ Thìn, T vào nhà và khép cổng lại, thách thức N. N cầm dao đi vào nhà, T ở trong nhà bếp nhưng vẫn chửi, N vừa đi vừa nói “Hôm nay tao giết mày luôn”. Tại phòng bếp N cầm dao đuổi T chạy vòng quanh bàn ăn, lấy ghế gỗ ném trúng người Thìn, khi ném con dao trên tay N văng ra phía trước, rớt xuống nền nhà, cách bà T khoảng 01 mét. Bị ném ghế trúng vai nên T khom người, tay trái ôm vai, tay phải để sát bụng. N chạy tới tay phải nhặt dao, rồi đi tới áp sát, tay trái ôm sau lưng bà T, tay phải cầm dao đâm mạnh liên tiếp 04 cái vào vùng bụng bà T. N nói với bà T “hôm nay đi tù, bố mày đâm chết mày luôn”. Sau đó, N điều khiển xe đến Công an đầu thú. Trên đường đi, cho rằng nguyên nhân do Đ1 mà N mới dùng dao đâm T nên N đi vào nhà Đ1, thấy Đoàn N1 lại hỏi nhưng Đ1 không trả lời, N1 đi đến gần tay phải cầm dao đâm 01 cái vào vùng hông trái của Đ1, bị Đ1 và gia đình phát hiện trị hô, N1 điều khiển xe đến Công an huyện C đầu thú, giao nộp hung khí là con dao gây án. Bà T và ông Đ1 được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện.

Ngày 22-02-2024, bà T có đơn yêu cầu khởi tố, ông Đ1 có đơn không yêu cầu xử lý (BL 70, 304).

Tại Kết luận giám định số 201 ngày 21-02-2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Đ, Kết luận Nguyễn Thị T, có các vết thương đã khâu nằm dọc vùng thượng vị sát đường giữa bụng, kích thước (1 x 0,2) cm; vết thương hơi chéo trên rốn 3,5 cm kích thước (0,8 x 0,1) cm; vết thương vùng hông phải, hố chậu phải kích thước (1 x 0,1) cm, vết thương mặt trong, mặt ngoài khuỷu tay phải, kích thước (7 x 0,1) cm, vết thương cổ tay trái, kích thước (7 x 0,1) cm. Tổng tỷ lệ thương tích tại thời điểm giám định là 9%. Vết thương do vật vật sắc, nhọn tạo nên; đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định (BL 105-108).

Tại Kết luận giám định bổ sung số 263 ngày 12-3-2024 của Trung tâm P1 - Sở Y tế tỉnh Đ, kết luận: Các tổn thương trên cơ thể cửa bà Nguyễn Thị T có tổng tỷ lệ thương tích là 10% (BL 123-120).

Ngày 17-7-2024, Trung tâm Pháp y tỉnh P1 có Công văn số 18 xác định các vết thương trên cơ thể của bà Nguyễn Thị T nằm ở vùng trọng yếu trên cơ thể của con người. Các vết thương này mà xuyên thấu vào ổ bụng, gây tổn thương các tạng và động mạch, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong (BL 323).

Cáo trạng số 41/CT-VKSĐN-P2 ngày 12-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Văn N phạm tội “Giết người”.

Áp dụng khoản 2 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 đến 09 năm tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 65; Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù của Bản án số 15/2019/HS-ST ngày 14-6-2019 của Toà án nhân dân huyện Cư Jút. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 46; Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

  • - Chấp nhận ngày 28-02-2024, Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định xử lý đồ vật, trả lại xe biển kiểm soát 48D1-237.28 cho bà Lê Thị H1, là chủ sở hữu hợp pháp.
  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao, là hung khí mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Lưu giữ trong hồ sơ 01 USB đã đóng dấu bút lục để phục vụ công tác xét xử.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại chi phí điều trị số tiền 2.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Bị hại Nguyễn Thị T trình bày: Trong vụ án bị hại cũng có một phần lỗi, khi thấy bị cáo nóng giận không khuyên răn mà có hành động lời nói chưa phù hợp. Bị cáo là anh trai của bị hại nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lâm Thị H: Không có ý kiến, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm

quyền, trình tự, thủ tục quy định. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập, lưu trong hồ sơ vụ án, được tranh tụng công khai, phù hợp với các tình tiết, diễn biến khách quan của vụ án. Qua đó xác định: Chiều ngày ngày 19-02-2024 giữa Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị T xảy ra mâu thuẫn, cãi cọ. Bực tức vì cho rằng bị em gái là bà T có lời lẽ chửi bới, xúc phạm mình nên khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày Nguyễn Văn N cầm dao đi qua nhà bà T, khi đi N nói “Hôm nay tao giết mày luôn”, sau đó dùng dao dài 22,5 cm, mũi dao nhọn đâm liên tiếp 04 cái vào vùng bụng là vùng trọng yếu của bà Nguyễn Thị T khi đâm N nói với bà T “hôm nay đi tù, bố mày đâm chết mày luôn”. Hậu quả bà Nguyễn Thị T không tử vong nhưng bị thương tích tổng tỉ lệ 10%.

Do đó căn cứ kết luận hành vi của Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Điều 123 của Bộ luật Hình sự quy định: Tội giết người

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

...

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.”

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo ý thức được hành vi dùng dao đâm liên tiếp 04 cái vào vùng bụng là vùng trọng yếu của cơ thể sẽ dẫn đến chết người nhưng vẫn cố ý thực hiện, sau đó bỏ mặc nạn nhân, việc bị hại chỉ bị thương nhưng không chết nằm ngoài mục đích của bị cáo. Ngoài ra trên đường đi tự thú cho rằng nguyên nhân xuất phát từ anh Nguyễn Văn Đ1 nên bị cáo tiếp tục dùng dao gây thương tích cho anh Đ1, thể hiện sự hung hăng, coi thường pháp luật cũng như tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự tại địa phương. Do đó,cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo việc giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo có 01 tiền án, Tại bản án số 15/2019/HS-ST ngày 14-6-2019 bị Toà án nhân dân huyện Cư Jút xử phạt 02 năm 06 tháng tù treo,

thời gian thử thách 05 năm về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa được xoá án tích mà tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, đồng thời, hình phạt 02 năm 06 tháng tù treo chuyển thành hình phạt tù và tổng hợp hình phạt của hai bản án.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện đi đầu thú. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình bồi thường 2.000.000 đồng cho bị hại và tại phiên toà được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; có mẹ là bà Lâm Thị H và cha ông Nguyễn Văn P là người có công với Cách mạng, bà H được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là phù hợp nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 170/QĐ-ĐTTH ngày 28-02-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đắk Nông.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao, là hung khí mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ 01 USB đã đóng dấu bút lục để phục vụ công tác giải quyết vụ án.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: gia đình Nguyễn Văn N đã bồi thường cho bà Nguyễn Thị T 2.000.000 và bà T không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về án phí: Buộc Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Hành vi bị cáo dùng dao gây thương tích 3% đối với ông Nguyễn Văn Đ1, ông Đ1 không có đơn yêu cầu xử lý, Cơ quan CSĐT công an tỉnh Đ chuyển hồ sơ và tài liệu đến Công an huyện C để xử phạt hành chính là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố Nguyễn Văn N phạm tội “Giết người”.

Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù;

Áp dụng khoản 5 Điều 65; Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù tại Bản án số 15/2019/HS-ST ngày 14-6-2019 của Toà án nhân dân huyện Cư Jút. Buộc Nguyễn Văn N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 20-02-2024), được khấu trừ thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-12-2018 đến ngày 29-01-2019.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Chấp nhận Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 170/QĐ-ĐTTH ngày 28-02-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đắk Nông.

2.2. Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao (Đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - Cục THADS tỉnh Đăk Nông;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Tổ HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về vụ án hình sự về tội "giết người"

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Giết người"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N phạm tội “Giết người”. Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger