Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Liêm;
  2. Ông Nguyễn Tấn Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lý Hoài T, sinh năm 1980. HKTT: Tổ 5, ấp Đ, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thủy T1, sinh năm 1982. HKTT: Tổ 5, ấp Đ, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn ông T, bị đơn bà T1 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Lý Hoài T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân:

Ông T và bà T1 bắt đầu chung sống với nhau năm 2000, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A ngày 15/8/2001.

Quá trình chung sống, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Giữa ông T và bà T1 đã không còn tình cảm, không còn sống chung và quan hệ vợ chồng nhiều năm nay. Thấy rằng mục đích hôn nhân không đạt được, hạnh phúc và tình nghĩa vợ chồng không còn nên ông T làm đơn xin ly hôn với bà T1.

Quá trình chung sống hai vợ chồng có 03 con chung tên Lý Hữu T2, sinh ngày 01/8/2002, Lý Hữu T3, sinh ngày 04/10/2005 và Lý Xuân T4, sinh ngày 30/5/2008. Ông T đồng ý giao cháu T4 cho bà T1 nuôi dưỡng, ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng cho đến khi cháu T4 đủ 18 tuổi. Cháu T2T3 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu, tranh chấp gì khác.

* Theo bản tự khai, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thủy T1 trình bày:

Thống nhất với nguyên đơn về thời gian chung sống năm 2000, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A ngày 15/8/2001.

Trong quá trình sinh sống thì giữa bà T1 và ông T có xảy ra những mâu thuẫn. Trước yêu cầu ly hôn của ông T thì bà T1 không đồng ý. Bản thân bà T1 không muốn ly hôn vì muốn các con có cha có mẹ.

Về con chung: Cháu Lý Hữu T2, sinh ngày 01/8/2002, Lý Hữu T3, sinh ngày 04/10/2005 đã trưởng thành. Nếu Toà án giải quyết ly hôn thì bà T1 yêu cầu nuôi cháu Lý Xuân T4, sinh ngày 30/5/2008, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Tại phiên toà, bà T1 chỉ yêu cầu được nuôi cháu T4 nếu Toà án giải quyết ly hôn, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra bị đơn không có yêu cầu, tranh chấp gì khác.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đã thực hiện đầy đủ việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các bên đương sự, xác minh, thu thập chứng cứ, xét xử vụ án theo trình tự luật định. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn ông Lý Hoài T khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết vấn đề con chung đối với bị đơn bà Nguyễn Thủy T1, bà T1 hiện đang cư trú tại ấp Đ, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quan hệ pháp luật tranh chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà T1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2000, hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A ngày 15/8/2001. Hôn nhân giữa ông T và bà T1 là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận. Ông T xác định quá trình chung sống ông T và bà T1 đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hai vợ chồng đã không còn sống chung với nhau, không còn quan hệ vợ chồng một thời gian dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông T xin được ly hôn với bà T1. Bị đơn bà T1 không đồng ý ly hôn với lý do là không muốn gia đình tan vỡ, vì muốn các con có cha có mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy, theo sự thừa nhận của các đương sự giữa ông T và bà T1 đã có những mâu thuẫn nhất định thể hiện việc hai ông bà đã ở hai nơi, ban ngày thì có ăn và làm chung nhưng buổi tối thì ông T ở một nơi, bà T1 ở một nơi, không có quan hệ vợ chồng đã nhiều năm nay. Năm 2023, ông T đã từng làm đơn yêu cầu ly hôn với bà T1 nhưng không được Toà án chấp nhận. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tạo điều kiện về thời gian để hai bên đoàn tụ với nhau nhưng bà T1 và ông T không thực hiện. Bà T1 cho rằng ông T có mối quan hệ với người phụ nữ khác nhưng không có chứng cứ chứng minh, ông T không thừa nhận. Hội đồng xét xử thấy rằng giữa nguyên đơn và bị đơn đã xảy ra vấn đề mâu thuẫn về mặt tình cảm đã lâu mà không được giải quyết dẫn đến cả hai đã không còn quan hệ vợ chồng trong một thời gian dài; pháp luật quy định vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau,...sống chung với nhau trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác; trường hợp này việc hai vợ chồng không sống chung với nhau là do mâu thuẫn kéo dài không được hai bên quan tâm giải quyết; thấy rằng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã nghiêm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống ông T và bà T1 có 03 con chung tên Lý Hữu T2, sinh ngày 01/8/2002, Lý Hữu T3, sinh ngày 04/10/2005 và Lý Xuân T4, sinh ngày 30/5/2008. Cháu T2T3 đã trưởng thành nên không giải quyết. Ông T đồng ý giao cháu T4 cho bà T1 nuôi dưỡng, ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng cho đến khi cháu T4 đủ 18 tuổi. Tại phiên toà, bà Tiên đồng ý nuôi cháu T4 và không yêu cầu cấp dưỡng. Cháu T4 có ý kiến muốn sống cùng mẹ nếu cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của các đương sự, giao cháu T4 cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà T1 về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

[4] Về án phí: Nguyên đơn ông T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lý Hoài T đối với bà Nguyễn Thủy T1 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lý Hoài T được ly hôn với bà Nguyễn Thủy T1.

1.2. Về con chung: Giao cháu Lý Xuân T4, sinh ngày 30/5/2008 cho bà Nguyễn Thủy T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thủy T1 về việc không yêu cầu ông Lý Hoài T cấp dưỡng nuôi con chung.

Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

2. Về án phí: Ông Lý Hoài T chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp theo biên lai thu số 0004998 ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

3. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/9/2024).

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - CCTHADS huyện Dầu Tiếng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Ngọc Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger