|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày 04-12-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Đặng Trình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Chính
Ông Lã Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 335/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đồng Thị T; ĐKHKTT: Tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn H; nơi cư trú: Tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; hiện đang chấp hành án tại: Đ, P, Trại giam H1, xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2009, chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H xây dựng hạnh phúc với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống nhưng do thiếu hiểu biết nên đến ngày 03/9/2013 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, quận K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về sống chung cùng gia đình chồng tại: Tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống hai bên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, cuộc sống chung không hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân mỗi người 01 nơi từ năm 2015 đến nay. Từ ngày 07/6/2018, anh Đặng Văn H bị bắt về tội V chuyển trái phép chất ma túy và bị xử phạt 20 (hai mươi năm) tù, hiện đang chấp hành án tại Đội 2, P, Trại giam H1, xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đồng Thị T đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Đặng Văn H.
Về con chung: Chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H có 02 con chung là Đặng Duy A, sinh ngày 26/9/2009 và Đặng Duy B, sinh ngày 24/9/2011; khi ly hôn, chị Đồng Thị T nhận nuôi cả 02 con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đồng Thị T đề nghị để hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Đồng Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Theo Biên bản ghi lời khai, bị đơn trình bày: Anh Đặng Văn H xác nhận quá trình kết hôn, chung sống và mâu thuẫn vợ chồng như chị Đồng Thị T trình bày là đúng. Anh Đặng Văn H đồng ý ly hôn với chị Đồng Thị Thúy
Về con chung: Anh Đặng Văn H xác nhận: Chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H có 02 con chung là Đặng Duy A, sinh ngày 26/9/2009 và Đặng Duy B, sinh ngày 24/9/2011; khi ly hôn, anh Đặng Văn H đồng ý giao cho chị Đồng Thị T nuôi cả 02 con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Đặng Văn H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án cơ bản thực hiện đúng trình tự tố tụng, nguyên đơn và bị đơn đã tuân theo đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203 BLTTDS; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, Danh mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử cho chị Đồng Thị T được ly hôn anh Đặng Văn H. Về con chung: Chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H có 02 con chung là Đặng Duy A, sinh ngày 26/9/2009 và Đặng Duy B, sinh ngày 24/9/2011; khi ly hôn, giao cả 02 con chung cho chị Đồng Thị T tiếp tục nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H đề nghị để hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H không đề nghị Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Đồng Thị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
2
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Anh Đặng Văn H; nơi cư trú: Tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; hiện đang chấp hành án tại: Đ, P, Trại giam H1, xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Tòa án nhân dân quận Kiến An đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nguyên đơn và bị đơn có đề nghị xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về quan hệ pháp luật: Chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường V, quận K, thành phố Hải Phòng chứng nhận kết hôn số 60, ngày 03/9/2013. Vì vậy, hôn nhân giữa chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H trong quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống, tính cách không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, hai vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Đồng Thị T xin ly hôn và anh Đặng Văn H đều đồng ý ly hôn nên việc chị Đồng Thị T xin ly hôn là có căn cứ cần được chấp nhận. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đề nghị của chị Đồng Thị T xin ly hôn anh Đặng Văn H là phù hợp pháp luật.
[5] Về con chung: Chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H có 02 con chung là Đặng Duy A, sinh ngày 26/9/2009 và Đặng Duy B, sinh ngày 24/9/2011; các cháu Đặng Duy A và Đặng Duy B đều có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn, từ khi bố mẹ sống ly thân đến nay cháu vẫn ở với mẹ và được chăm sóc phát triển bình thường. Chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H thống nhất giao cả 02 con chung cho chị Đồng Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyếy; ý kiến này là tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội cần được chấp nhận.
[6] Về tài sản chung: Chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.
[7] Về án phí: Chị Đồng Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đồng Thị T:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H.
- Về con chung: Giao 02 con chung là Đặng Duy A, sinh ngày 26/9/2009 và Đặng Duy B, sinh ngày 24/9/2011 cho chị Đồng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn không xem xét giải quyết hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản: Chị Đồng Thị T và anh Đặng Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Đồng Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003839 ngày 06/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Chị Đồng Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Đặng Trình |
4
Bản án số 47/2023/HNGĐ-ST ngày 04/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 47/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
