|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày 04-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lâm Quốc Tú.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Thị Hạnh Lê;
- Ông Nguyễn Văn Tường;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Nguyễn Văn D; tên gọi khác; không; sinh ngày: 12 tháng 5 năm 1996, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D1; sinh năm: 1972 và bà Phạm Thị A; sinh năm: 1973; vợ; Hoàng Thị Khánh H; sinh năm: 2000; con: Có hai con; lớn nhất sinh năm: 2019 – nhỏ nhất sinh năm: 2023; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 36/2013/HS-ST ngày 31/01/2013 của Tòa án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt Nguyễn Văn D 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Bản án số 435/2013/HSST ngày 15/11/2013 của Tòa án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt Nguyễn Văn D 09 tháng tù về tội Cướp giật tài sản quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tổng hợp 9 tháng tù tại bản án số 36/2013/HSST ngày 31/01/2013 của TAND TP Vinh buộc bị cáo chấp hành chung cả hai bản án là 18 tháng tù. Bản án số 20/2014/HSST ngày 25/3/2014 của Tòa án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt Nguyễn Văn D 01 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tổng hợp 18 tháng tù tại bản án số 435/2013/HSST ngày 15/11/2013 của TAND TP Vinh, buộc bị cáo chấp hành chung cả hai bản án là 3 năm tù. Đã chấp hành xong bản án vào ngày 26/01/2016. Bản án số 114/2021/HS-ST ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt Nguyễn Văn D 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đã chấp hành xong bản án vào ngày 06/12/2021. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16/QĐ-XPHC ngày 18/01/2021 của Công an T4, tỉnh Nghệ An xử phạt Nguyễn Văn D 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”. Đã chấp hành xong quyết định vào ngày 19/01/2021. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2024 đến nay có mặt tại tòa.
2. Họ tên: Nguyễn Văn C; tên gọi khác; không; sinh ngày: 21 tháng 5 năm 1998, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N; sinh năm: 1962 và bà Lê Thị L – đã chết; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 114/2021/HS-ST ngày của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt Nguyễn Văn C 03 tháng 9 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đã chấp hành xong bản án vào ngày 15/11/2021. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay có mặt tại tòa.
3. Họ tên: Nguyễn Văn Đ; tên gọi khác; không; sinh ngày: 17 tháng 9 năm 1978, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L1; sinh năm: 1959 và bà Nguyễn Thị L2; sinh năm: 1958; vợ: Nguyễn Thị H1; sinh năm: 1984; con:có 04 con; lớn nhất sinh năm 2007 – nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 20/4/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. có mặt tại tòa.
- Người bị hại:
- Anh Phan Văn T; sinh năm: 1980; cư trú tại: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt – có đơn xin vắng mặt.
- Anh Trần Văn T1; sinh năm: 1986; địa chỉ: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt – có đơn xin vắng mặt.
- Anh Trần Văn T2; sinh năm: 1982; địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt – có đơn xin vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị S; sinh năm: 1984; địa chỉ: xóm D, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt – có đơn xin vắng mặt.
- Chị Cao Thị Thanh H2; sinh năm: 1983; địa chỉ: xóm C, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt – có đơn xin vắng mặt.
- Chị Cao Thị H2; sinh năm: 1986; địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt – có đơn xin vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H3; sinh năm: 1978; địa chỉ: xóm G, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt – có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 08 năm 2023, khi Nguyễn Văn Đ đang bán thịt chó tại chợ G, thuộc xã H, huyện H thì Nguyễn Văn D đến hỏi: “Có lấy hàng bán không?” (ý D hỏi Điều có lấy chó để bán không). Điều hỏi giá thì D nói giá 70.000 đồng/1kg. Thấy giá rẻ hơn so với người khác nên Điều đã đồng ý. Duyệt cho Điều số điện thoại 0773.603.xxx để khi cần mua chó sẽ liên hệ với D. Sau đó, Đ đã mua chó của Duyệt một số lần. Mỗi lần bán chó, Nguyễn Văn D thường đi cùng với Nguyễn Văn C vào chiều tối, đi xe mô tô chở theo 01 bì màu đen bên trong chứa một số con chó đã chết hoặc đang sống nhưng đều bị cuốn băng dán đen ở miệng nên Điều biết được đây là chó do D và C trộm cắp mà có.
Vào sáng ngày 09/04/2024, khi Đ đi bán thịt chó và thịt lợn ở chợ G thì có khách đặt mua thịt chó với số lượng 02 con. Do đó, đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Điều sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen gắn sim số 0379086223 để gọi vào điện thoại di động Nokia 105 màu đen gắn sim số 0773603362 cho D nói: “Tối có hàng thì lấy 02 con” (tức là Điều muốn đặt hàng 02 con chó do D đi trộm), D đồng ý. Sau đó D gọi vào điện thoại Iphone 12 Promax của C và rủ C đi trộm chó về bán cho Điều, C đồng ý. Cương chuẩn bị các công cụ sau: băng keo dính màu đen (dùng để quấn bịt mồm chó); chai thủy tinh, súng cao su, một số viên sỏi (mang theo phòng trường hợp bị phát hiện truy đuổi thì chống trả để tẩu thoát); bì xác rắn để đựng chó; kích điện, súng bắn điện là để chuẩn bị thực hiện hành vi trộm chó. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu trắng đen, mang biển số 37K1-94.097, bên ngoài gắn biển số 37D1-649.17 (biển giả do C nhặt được và lắp vào từ trước đó) đi đến nhà D rồi đón D và cùng di chuyển ra khu vực đường liên xóm thuộc xã N, TP V, Nghệ An thì dừng lại. Duyệt và C mặc thêm quần áo, bịt khẩu trang che kín mặt, chuẩn bị các dụng cụ, phương tiện đã mang theo từ nhà, lắp thêm bộ phận kích điện nối trực tiếp với ắc quy xe và phần súng bắn điện tự chế. Sau khi chuẩn bị xong, D lái xe chở C ngồi sau di chuyển theo tuyến đường từ xã N đi đến khu vực chợ V rồi rẽ theo đường cầu C để đi về huyện H. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi đi đến tuyến đường liên xóm gần trường tiểu học P thuộc xóm C, xã C, huyện H, nhìn thấy 01 con chó đực màu vàng có trọng lượng khoảng 12kg của chị Cao Thị Thanh H2 (sinh năm 1983, trú tại xóm C, xã C) đang đi trên đường, C ngồi sau dùng súng bắn điện tự chế mang theo trước đó bắn vào thân con chó khiến nó ngất đi rồi nhảy xuống xe nhanh chóng lại gần ôm con chó lên, dùng băng keo màu đen quấn chặt mồm của con chó lại và ôm con chó đưa lại gần xe, lúc này D vẫn ngồi trên xe, mở miệng bì xác rắn để C bỏ con chó vào. Sau đó cả hai nhanh chóng tẩu thoát và di chuyển đến khu vực gần đài tưởng niệm liệt sỹ thuộc xóm G xã C, C và D tiếp tục bắt được 01 con chó đực màu đen có trọng lượng 13 kg của chị Nguyễn Thị H3 (sinh năm 1978, trú tại xóm G, xã C). Sau đó, D và C di chuyển đến tuyến đường xóm P, xã H, tiếp tục bắt được 01 con chó cái lông vàng, có trọng lượng khoảng 12 kg của anh Phạm Văn T3 (sinh năm 1980, trú tại xóm P, xã H). Sau đó, cả hai đi đến khu vực cách cây xăng H5 khoảng 1 km, thuộc xóm B, xã H, bắt được 01 con chó đực lông màu vàng có trọng lượng khoảng 13 kg của anh Trần Văn T2 (sinh năm 1982, trú tại xóm B, xã H). Sau đó C và D bán 04 con chó vừa trộm được cho Điều được số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), số tiền này thì D và C chia đôi và tiêu xài hết. Đến sáng ngày 10/04/2024, Điều làm thịt 03 con chó đưa ra chợ bán cho người dân không quen biết với giá 130.000 đồng/1 kg. Còn 01 (một) con Điều nhốt trong chuồng tại nhà ở của mình.
Cũng trong sáng ngày 10/04/2024, có người công nhân làm việc tại khu công nghiệp V (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đến đặt mua Điều 03 con chó thịt vào ngày hôm sau. Do đó, vào lúc 15 giờ 52 phút cùng ngày, Đ gọi điện thoại cho D để nói: “Hôm nay có người đặt 03 con, bữa nay có hàng thì để anh 03 con”, tức là Điều muốn đặt hàng mua 03 con chó do anh D đi trộm, D đồng ý và tiếp tục rủ C đi trộm chó, C đồng ý. Khoảng 18 giờ ngày 10/4/2024, C tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS 37K1-94.097 đến đón D rồi đi đến khu vực đường liên xóm thuộc xã N, TP V, Nghệ An thì dừng lại, mặc thêm quần áo, bịt khẩu trang che kín mặt, lắp thêm bộ phận kích điện nối trực tiếp với ắc quy xe và phần súng bắn điện tự chế. Sau đó, D lái xe chở C di chuyển theo tuyến đường từ xã N đi đến khu vực chợ V rồi rẽ theo đường cầu C để đi về huyện H. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực gần một nhà dân sát cầu G thuộc xóm B, xã H, huyện H thì cả hai nhìn thấy 01 con chó cái lông vàng đậm có trọng lượng 26 kg của chị Cao Thị H2 sinh năm 1986, trú tại xóm B, xã H. C ngồi sau dùng súng bắn điện tự chế mang theo trước đó bắn vào thân con chó khiến nó ngất đi rồi nhảy xuống xe nhanh chóng lại gần ôm con chó lên, dùng băng keo màu đen quấn chặt mồm của con chó lại và ôm con chó đưa lại gần xe, lúc này D vẫn ngồi trên xe, mở miệng bì xác rắn để C bỏ con chó vào. Sau đó cả hai tiếp tục chạy xe đến tuyến đường liên xóm thuộc xóm C, xã H, huyện H thì bắt được 01 chó cái, lông xù màu đen có trọng lượng 17 kg của anh Trần Văn T1, sinh năm 1986, trú tại xóm C, xã H. Tiếp đó, cả hai chạy xe đến khu vực đường liên xóm thuộc khu vực xóm D, xã C, huyện H, tiếp tục bắt được 01 con chó cái lông vàng nhạt, có trọng lượng 14 kg của chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1984, trú tại xóm D, xã C. Sau khi đã bắt đủ 3 con, D và C quay lại theo đường tránh TP V đi đến nhà Điều để bán chó. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, D và C đến nhà Đ mang theo 01 bì màu đen bên trong có 03 con chó đã chết để bán cho Điều thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N phát hiện bắt giữ. Duyệt bỏ chạy, đến ngày 13/4/2024, D đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đầu thú.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND tỉnh N kết luận: 07 (bảy con chó thường, có khối lượng 107 kg (một trăm linh bảy kilogam) tại thời điểm tháng 4/ 2024 có giá trị là 7.490.000 đồng (Bảy triệu, bốn trăm chín mươi nghìn đồng).
Tại công văn số 11/HĐĐGTS ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND tỉnh N cung cấp thêm các nội dung thông tin trong bản Kết luận định giá số 08/KL-HĐĐGTS ngày 17/4/2024 như sau:
- “1. 04 (bốn) con chó bị mất trộm trong ngày 09/4/2024, có tổng trọng lượng là 50kg, tại thời điểm ngày 09/4/2024, có giá trị là: 3.500.000 đồng (Ba triệu, năm trăm nghìn đồng chẵn), trong đó:
- 01 (một) con chó đực, màu lông đen vàng, có trọng lượng 13 kg (mười ba kilôgam), có giá trị là: 910.000 đồng;
- 01 (một) con chó đực, màu lông vàng, có trọng lượng 12 kg (mười hai ki lô gam), có giá trị là: 840.000 đồng;
- 01 (một) con chó cái, màu lông vàng, có trọng lượng 12 kg (mười hai ki lô gam), có giá trị là: 840.000 đồng;
- 01 (một) con chó đực, màu lông vàng, có trọng lượng 13 kg (mười ba ki lô gam), có giá trị là: 910.000 đồng;
- 2. 03 (ba) con chó bị mất trộm trong ngày 10/4/2024, có tổng trọng lượng là 57 kg, tại thời điểm ngày 10/4/2024, có giá trị là: 3.990.000 đồng (Ba triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng chẵn), trong đó:
- 01 (một) con chó cái, màu lông vàng nhạt, có trọng lượng 14 kg (mười bốn ki lô gam), có giá trị là: 980.000 đồng;
- 01 (một) con chó cái, màu lông vàng đậm, có trọng lượng 26 kg (Hai mươi sáu ki lô gam), có giá trị là: 1.820.000 đồng;
- 01 (một) con chó cái, màu đen lông xù, có trọng lượng 17 kg (mười bảy ki lô gam), có giá trị là: 1.190.000 đồng”.
Vật chứng thu giữ là:
- 01 ná cao su có khung bằng kim loại hình chữ Y được cuốn băng dính đen và dây dù màu đen, có dây ná bằng cao su màu vàng kết nối với miếng da nhỏ màu đen đã qua sử dụng;
- 01 cân đồng hồ màu xanh loại 100 kg, nhãn hiệu Nhơn H4 đã qua sử dụng;
- 01 vỏ chai bia bằng thuỷ tinh màu xanh nhãn hiệu Vida đã qua sử dụng;
- 01 bì xác rắn màu đen đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, số IMEI 1: 861128054608739; IMEI 2: 861128054608721;
- 03 cuộn băng dính màu đen nhãn hiệu Nano đã qua sử dụng;
- 05 viên đá sỏi màu vàng;
- 01 súng tự chế có thân làm bằng gỗ, trên đầu được gắn dây cao su màu xanh và hai thanh gỗ dạng tròn, phía trước có gắn hai kim loại nhọn kết nối với dây điện màu đỏ có phích cắm điện màu trắng;
- 01 biển kiểm soát xe mô tô 37 D1-649.17;
Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Nguyễn Thị H3 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là con chó còn sống nên không có yêu cầu đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự.
- Các bị can Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn C đã bồi thường cho anh Phạm Văn T3, Trần Văn T1, Trần Văn T2, chị Nguyễn Thị S, Cao Thị Thanh H2 mỗi người 1.000.000 đồng; bồi thường cho chị Cao Thị H2 2.000.000 đồng. Người bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì vế hành vi phạm tội của mình, về kết luận định giá và vật chứng vụ án nêu trên. Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi mà các bị cáo thực hiện như nội dung vụ án nêu trên.
Cáo trạng số 47/CT-VKS-HN ngày 27 tháng 7 năm 2024 của viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: các bị cáo hoàn toàn thừa nhận về hành vi phạm tội của mình. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173 ; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 6 đến 9 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 13/4/2024. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 6 đến 9 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/4/2024. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 58 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung do các bị cáo thu nhập không ổn định.
- Xử lý vật chứng: đề nghị Áp dụng dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung công: 01 cân đồng hồ màu xanh loại 100 kg, nhãn hiệu Nhơn H4 đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, số IMEI 1: 861128054608739; IMEI 2: 861128054608721 là công cụ, phương tiện dùng để phạm tội.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 ná cao su có khung bằng kim loại hình chữ Y được cuốn băng dính đen và dây dù màu đen, có dây ná bằng cao su màu vàng kết nối với miếng da nhỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 vỏ chai bia bằng thuỷ tinh màu xanh nhãn hiệu Vida đã qua sử dụng; 01 bì xác rắn màu đen đã qua sử dụng; 03 cuộn băng dính màu đen nhãn hiệu Nano đã qua sử dụng; 05 viên đá sỏi màu vàng; 01 súng tự chế có thân làm bằng gỗ, trên đầu được gắn dây cao su màu xanh và hai thanh gỗ dạng tròn, phía trước có gắn hai kim loại nhọn kết nối với dây điện màu đỏ có phích cắm điện màu trắng; 01 biển kiểm soát xe mô tô 37 D1-649.17;
- Trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo đã sai nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là thống nhất với nhau. Phù hợp với Biên bản sự việc lập ngày 10 tháng 4 năm 2024; phù hợp lời khai của những người bị hại; phù hợp với Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 13 tháng 4 năm 2024.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sơ để kết luận: Do có sự hứa hẹn trước trong việc tiêu thụ chó do trộm cắp mà có của Nguyễn Văn Đ, vào khoảng 19 giờ ngày 09/4/2024, tại địa bàn xóm C, xóm G xã C, xóm P, xã H; xóm B, xã H, Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn C đã trộm cắp 04 con chó có tổng trọng lượng 50 kg trị giá 3.500.000 đồng của chị Cao Thị Thanh H2, chị Nguyễn Thị H3, anh Phạm Văn T3, anh Trần Văn T2, sau đó bán toàn bộ cho Nguyễn Văn Đ.
Tiếp đó khoảng 19 giờ ngày 10/4/2024, tại các địa bàn thuộc xóm B, xóm C, xã H; xóm D, xã C, Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn C tiếp tục trộm cắp 03 con chó có tổng trọng lượng 57 kg trị giá 3.990.000 đồng của chị Cao Thị H2, anh Trần Văn T1, chị Nguyễn Thị S.
Như vậy, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Đ đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp 07 con chó có tổng trọng lượng 107 kg, có tổng trị giá tài sản là 7.490.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
1. " Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 03 năm...."
Như vậy, căn cứ vào hành vi của bị cáo và đối chiếu với quy định của Điều luật nêu trên, hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để lén lút trộm cắp tài sản. Hành vi trên của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo là liều lĩnh, táo bạo, thể hiện sự xem thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước nên cần phải xử lý nghiêm.
[4]. Đánh giá vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Vai trò của các bị cáo cụ thể như sau: Bị cáo Nguyễn Văn D có vai trò đầu vụ vừa là người rủ rê, chuẩn bị công cụ phương tiện vừa là người thực hành tích cực nên bị cáo D phải chịu vai trò cao nhất trong vụ án.
Vai trò thứ hai thuộc về bị cáo Nguyễn Văn C: Bị cáo C vừa là người chuẩn bị công cụ phương tiện để phạm tội, vừa là người thực hành tích cực.
Vai trò cuối cùng thuộc về bị cáo Nguyễn Văn Đ. Bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò là người giúp sức, tiêu thụ các tài sản trộm cắp cho hai bị cáo C và D.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hai bị cáo Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn D được hưởng tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tự nguyện khắc phục thiệt hại; các bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Bị cáo D sau khi phạm tội ra đầu thú. Nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
(5) về hình phạt
Xét: Bị cáo D có vai trò đầu vụ, cả hai bị cáo C, D đều có nhân thân xấu, đã từng bị toà án xét xử nhiều lần về hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, tu dưỡng bản thân mà chỉ vì lười lao động, muốn có tiền một cách nhanh chóng nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần lên một m ức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răng đe và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ mặc dù các phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần, nhưng xét thấy trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện khắc phục thiệt hại; có bố là người có công với cách mạng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1, 2 Điều 51 BLHS (cụ thể có 2 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 BLHS và 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 BLHS) nên ko cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ để răn đe đối với bị cáo.
Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa hôm nay đối với các bị cáo là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại không yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Tòa không xét.
[8].Về xử lý vật chứng: Xét chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, số IMEI 1: 861128054608739; IMEI 2: 861128054608721 và 01 cân đồng hồ màu xanh loại 100 kg, nhãn hiệu Nhơn H4 đã qua sử dụng là công cụ Phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Các vật chứng còn lại gồm: 01 ná cao su có khung bằng kim loại hình chữ Y được cuốn băng dính đen và dây dù màu đen, có dây ná bằng cao su màu vàng kết nối với miếng da nhỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 vỏ chai bia bằng thuỷ tinh màu xanh nhãn hiệu Vida đã qua sử dụng; 01 bì xác rắn màu đen đã qua sử dụng; 03 cuộn băng dính màu đen nhãn hiệu Nano đã qua sử dụng; 05 viên đá sỏi màu vàng; 01 súng tự chế có thân làm bằng gỗ, trên đầu được gắn dây cao su màu xanh và hai thanh gỗ dạng tròn, phía trước có gắn hai kim loại nhọn kết nối với dây điện màu đỏ có phích cắm điện màu trắng; 01 biển kiểm soát xe mô tô 37 D1-649.17 là những vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ theo quy định.
[8]. Về án phí: Áp dụng khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 01 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam là ngày 13/4/2024.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam là ngày 11/4/2024.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12(Mười hai) tháng. Thời hạn thử thách của án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Văn Đ trong thời gian thử thách.
Giao cho gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vì phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
3. Về vật chứng: áp dụng Khoản 1 Điều 47 bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 Chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, số IMEI 1: 861128054608739; IMEI 2: 861128054608721 và 01 cân đồng hồ màu xanh loại 100 kg, nhãn hiệu Nhơn H4 đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 ná cao su có khung bằng kim loại hình chữ Y được cuốn băng dính đen và dây dù màu đen, có dây ná bằng cao su màu vàng kết nối với miếng da nhỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 vỏ chai bia bằng thuỷ tinh màu xanh nhãn hiệu Vida đã qua sử dụng; 01 bì xác rắn màu đen đã qua sử dụng; 03 cuộn băng dính màu đen nhãn hiệu Nano đã qua sử dụng; 05 viên đá sỏi màu vàng; 01 súng tự chế có thân làm bằng gỗ, trên đầu được gắn dây cao su màu xanh và hai thanh gỗ dạng tròn, phía trước có gắn hai kim loại nhọn kết nối với dây điện màu đỏ có phích cắm điện màu trắng; 01 biển kiểm soát xe mô tô 37 D1-649.17.
(Đặc điểm chi tiết các loại vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa Công an huyện H và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Đ phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Quốc Tú |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Duyệt cùng đồng phạm
