|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-6-2024 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Trang Phượng.
Ông Phạm Hoàng Hân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị L, sinh năm 1980 (xin vắng).
Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn L1 (L2), sinh năm 1977 (vắng).
Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Năm 2005, bà L và ông L1 kết hôn tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương; đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau vào ngày 28 tháng 02 năm 2005.
- Lý do xin ly hôn: Ông bà chung sống nhưng không hạnh phúc do mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Ông bà sống ly thân nhiều năm, ông L1 cùng các con đi Bình Dương làm thuê, thời gian sống ly thân ông bà không giải quyết được mâu thuẫn. Do tình cảm vợ chồng đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông L1.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Trường K (N), sinh ngày 01/01/1999 và Huỳnh Chúc M (Nữ), sinh ngày 05/01/2007. Khi ly hôn, cháu K đã trưởng thành nên không yêu cầu xem xét, riêng cháu M đang sống với ông L1 nên bà L tự nguyện để ông L1 nuôi con.
- Về cấp dưỡng, chia tài sản, nợ thu và nợ trả: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Huỳnh Văn L1 (Lẻ): Tòa án đã tống đạt trực tiếp Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông L1 vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về thủ tục tố tụng
Bà Võ Thị L yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn L1 (Lẻ), đây là tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án không có yếu tố nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Nguyên đơn bà Võ Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, yêu cầu của đương sự phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
Bị đơn ông Huỳnh Văn L1 đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt là có căn cứ.
[2] Về nội dung vụ án
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông L1 tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 28/02/2005, đăng ký kết hôn tại UBND xã Tiang, huyện N, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 12, quyển số 01/2005, vì vậy quan hệ hôn nhân của ông bà được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Nhận thấy, trong quá trình chung sống, ông bà đã xảy ra mâu thuẫn mà không tìm ra cách khắc phục, ông bà đã sống ly thân nhiều năm mà không tìm được cách hàn gắn hôn nhân. Tòa án cũng tổ chức hòa giải hôn nhân nhưng ông L1 không thiện chí khi không có mặt để hòa giải chứng tỏ ông bà không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc nhau mà mỗi người chỉ biết bổn phận người đó, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ những lẽ đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L cho ly hôn giữa bà L với ông L1 theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2] Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên là Huỳnh Trường K (N), sinh ngày 01/01/1999 và Huỳnh Chúc M (Nữ), sinh ngày 05/01/2007. Cháu K đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét. Đối với cháu M, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con, cháu M đang sống với ông L1 ở Bình Dương nên Tòa án không ghi nhận được nguyện vọng. Tuy nhiên, cháu M được ông L1 nuôi dưỡng vẫn đảm bảo phát triển tốt và bà L tự nguyện giao con cho ông L1 trực tiếp nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu M cho ông L1 tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[3] Về chia tài sản chung và công nợ: Các đương sự xác định không có nên không đặt ra yêu cầu. Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch nguyên đơn phải chịu, nguyên đơn có nộp tạm ứng án phí được khấu trừ, án phí nguyên đơn đã nộp đủ.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Văn L3 (Lẻ). Cho bà Võ Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn L3 (Lẻ).
- - Về con chung: Giao cháu Huỳnh Chúc M (Nữ), sinh ngày 05/01/2007 cho ông Huỳnh Văn L1 (Lẻ) trực tiếp nuôi dưỡng.
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- - Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- - Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng nguyên đơn phải chịu, nguyên đơn có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0013872 ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn được đối trừ, án phí hôn nhân nguyên đơn đã nộp đủ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thùy Linh |
4
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn (tranh chấp về hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn (Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
