|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/DS-ST Ngày: 03-7-2024 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thu Thủy;
Ông Vũ Xuân Chính.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ông Lê Tấn X, sinh năm 1966 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968 (xin vắng) và ông Lê Văn N1, sinh năm 1965 (vắng).
Nơi cư trú: Ấp L, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Lê Tấn X trình bày tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Từ năm 2013, vợ chồng bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 có làm chủ hụi, trong đó ông X là hụi viên tham gia các dây hụi, cụ thể:
- - Dây hụi khui vào ngày 25/3/2013 âm lịch, hụi 300.000 đồng/tháng, mỗi tháng khui 02 lần, hụi gồm có 55 phần hụi, ông X có chơi 02 phần hụi, ông X đã đóng được 19 lần số tiền là 11.400.000 đồng.
- - Dây hụi khui vào ngày 10/10/2014 âm lịch, hụi 300.000 đồng/tháng, mỗi tháng khui 02 lần, hụi gồm có 59 phần hụi, ông X có chơi 02 phần hụi, ông X đã đóng được 29 lần số tiền là 17.400.000 đồng.
- - Dây hụi khui vào ngày 25/12/2014 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng/tháng, mỗi tháng khui 02 lần, hụi gồm có 32 phần hụi, ông X có chơi 02 phần hụi, ông X đã đóng được 24 lần số tiền là 48.000.000 đồng.
- - Dây hụi khui vào ngày 10/6/2015 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng/tháng, mỗi tháng khui 02 lần, hụi gồm có 30 phần hụi, ông X có chơi 01 phần hụi, ông X đã đóng được 13 lần số tiền là 13.000.000 đồng.
Ngoài ra ngày 17/3/2016, vợ chồng bà N và ông N1 còn nợ tiền hụi mua số tiền 55.000.000 đồng nên bà N ghi “giấy nợ” và “người thiếu nợ” là Đỗ Kim N2 ký nhận.
Tổng cộng số tiền vợ chồng bà N2 và ông N1 nợ ông X là 144.800.000 đồng. Nay ông X yêu cầu bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 phải liên đới trả cho ông số tiền hụi tổng cộng là 144.800.000 đồng, ông không yêu cầu tính lãi suất.
Ngày 25/6/2024, Tòa án lấy lời khai đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà N xác nhận vợ chồng bà có làm chủ hụi tại địa phương, ông X tham gia hụi như lời ông X trình bày là hoàn toàn đúng. Bà N xác nhận giấy nợ 55.000.000 đồng là tiền nợ hụi mua ông X. Bà N xác nhận hiện nay vợ chồng bà còn nợ tiền hụi của ông X tổng cộng là 144.800.000 đồng. Vợ chồng bà đồng ý trả nợ cho ông X nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ông N1 (chồng bà) đang bệnh ung thư nên chưa có khả năng.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tấn X đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1. Án phí bị đơn chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Tấn X có đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 liên đới trả tổng số tiền hụi còn nợ là 144.800.000 đồng, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Toà án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hụi.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; ông Lê Văn N1 vắng mặt xét xử lần 2. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà N và ông N1.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn X yêu cầu bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 liên đới trả cho ông tổng số tiền nợ hụi là 144.800.000 đồng, ông X không yêu cầu tính lãi suất, Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ năm 2013, ông X có tham gia chơi hụi của bà N và ông N1 làm chủ hụi, hiện nay vợ chồng bà N và ông N1 còn thiếu tiền hụi của ông X là 144.800.000 đồng. Tại Tòa án bà N cũng thừa nhận hiện nay vợ chồng bà còn nợ tiền hụi ông X tổng cộng là 144.800.000 đồng, vợ chồng bà đồng ý liên đới trả nợ cho ông X.
Ông Lê Văn N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không ý kiến phản đối khởi kiện của ông Lê Tấn X. Mặt khác, giao dịch hụi giữa các đương sự diễn ra trong thời kỳ hôn nhân, theo quy định tại Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới và có nghĩa vụ chung về tài sản vì phần hoa hồng từ giao dịch hụi nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu gia đình.
Do đó, việc ông Lê Tấn X yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 trả số tiền nợ hụi 144.800.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3] Thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án như đã phân tích và nhận định trên.
[4] Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015 Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ quy định về, họ, hụi, biêu, phường, Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn X; buộc bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 phải liên đới trả cho ông X số tiền nợ hụi 144.800.000 đồng.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên buộc bà N và ông N1 liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải trả cho ông X là: 144.800.000 đồng x 5% = 7.240.000 đồng.
Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 3.620.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0016336 ngày 31/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các điều 227, 228, 266 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng: Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ quy định về, họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn X về việc khởi kiện đòi tiền hụi bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn N1.
- - Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Tấn X số tiền nợ hụi là 144.800.000 đồng (Một trăm bốn mươi bốn triệu tám trăm ngàn đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thanh toán tại thời điểm thi hành án.
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 có nghĩa vụ nộp án phí là 7.240.000 đồng (Bảy triệu hai trăm bốn mươi ngàn đồng).
- Ông Lê Tấn X được nhận lại số tiền 3.620.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0016336 ngày 31/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn.
- “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
- - Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thùy Linh |
4
Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 47/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hụi
