|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03-5-2024 V/v: Xin ly hôn, nuôi con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Phương My;
- Ông Nguyễn Quốc Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Hồ Vũ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2023/TLST-HNGĐ, ngày 13/01/2023 về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/QĐST-HNGĐ, ngày 12/4/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Q, sinh năm 1995.
Nơi cư trú: Thôn V, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Phan T, sinh năm 1996.
Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 06 tháng 01 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị Q trình bày: Giữa chị và anh Phan T tự nguyện chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 14/01/2020. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T ham chơi, không chịu làm ăn, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, vợ chồng thường xuyên cải vã nhau. Mặc dù gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T vẫn không chịu thay đổi dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng không chung sống với nhau hơn 02 năm nay. Nay chị Q nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết chị được ly hôn với anh Phan Tâm .
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là Phan Trần Bảo A, sinh ngày 21/9/2020, cháu hiện nay đang sống cùng chị Q. Nếu ly hôn, chị Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Q trình bày quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/3/2024, bị đơn là anh Phan T trình bày: Anh và chị Trần Thị Q tự nguyện chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào năm 2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 03 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là có một thời gian anh ham chơi, không làm ra kinh tế nên vợ chồng thường xuyên cải vã, xúc phạm nhau. Nay chị Q xin ly hôn anh thì anh chưa muốn ly hôn, anh muốn sau vài tháng vợ chồng thoả thuận được về con mới ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung Phan Trần Bảo A, sinh ngày 21/9/2020. Nếu ly hôn, anh đồng ý giao cháu Bảo A cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành. Anh không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án huyện Quảng Điền đã tiến hành triệu tập, cũng như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải tống đạt trực tiếp cho anh T nhưng anh T vắng mặt do đó vụ án không thể tiến hành hòa giải được nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tham gia phiên tòa:
Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng:
Trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần hai không có lý do nhưng Tòa án đã tống đạt hợp lệ, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Q được ly hôn với anh Phan Tâm
Về con chung: Áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình để giao cháu Phan Trần Bảo A, sinh ngày 21/9/2020 cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Q có đơn xin ly hôn bị đơn là anh Phan T có nơi cư trú tại: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế nên tranh chấp trên được xác định là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Q và anh Phan T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 14/01/2020, điều kiện và thủ tục kết hôn đúng quy định của pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Qúa trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T ham chơi, không làm ra kinh tế, không chăm lo cho cuộc sống gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã, xúc phạm nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên 2 anh chị hiện nay không chung sống với nhau. Chị Q nhận thấy không còn tình cảm với anh T và có yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Phía anh T cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng xảy ra là do có thời gian anh ham chơi, không làm ra kinh tế dẫn đến vợ chồng hay cải vã. Tuy nhiên, hiện tại anh chưa đồng ý ly hôn vì anh muốn có thời gian để vợ chồng thoả thuận được về con cái rồi mới ly hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành lấy lời khai của gia đình chị Q, thì thấy rằng sau khi kết hôn, do anh T ham chơi nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị Q đưa con về nhà ngoại sinh sống. Vợ chồng không sống chung với nhau cũng gần 02 năm nay. Trong thời gian đó, anh T không lui tới chăm sóc, hay có trách nhiệm gì với vợ con cả. Anh T không đồng ý ly hôn nhưng anh cũng không có biện pháp gì để vợ chồng quay về đoàn tụ. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn của chị Q và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Q.
[2.2] Về nuôi con chung: Quá trình chung sống, chị Trần Thị Q và anh Phan T có 01 con chung Phan Trần Bảo A, sinh ngày 21/9/2020. Chị Q có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay chị Q có việc làm, thu nhập và có chỗ ở ổn định. Anh T cũng đồng ý giao cháu Bảo A cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến trưởng thành đủ 18 tuổi nên việc giao con chung cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở và cũng phù hợp quy định pháp luật. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị Trần Thị Q.
[2.3]. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Trần Thị Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Q được ly hôn với anh Phan Tâm.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Trần Bảo A, sinh ngày 21/9/2020 cho chị Trần Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Phan T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị Q và anh Phan T không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Chị Trần Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0002259 ngày 13/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền, chị Q đã nộp đủ án phí ly hôn.
- Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Quốc Công |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về xin ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận cho ly hôn
