|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày: 02 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thái Thơ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dương
Ông Nguyễn Thành Quyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Bảo Quốc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh D, sinh ngày 01/01/1983 tại P, Hậu Giang; nơi cư trú: ấp E, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X và bà Phạm Thị Ú; bị cáo có vợ (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: bị Ủy ban nhân dân tỉnh H đưa vào Trường G tháng theo Quyết định số 507/QĐ ngày 14/3/2012; bị cáo bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 06/01/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Lê Văn B, sinh năm 1965; nơi cư trú: ấp E, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Đinh Công P, sinh năm 1965; nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nơi ở hiện tại: Ấp E, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)
- Nguyễn Văn X, sinh năm 1957; nơi cư trú: Ấp E, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
- Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp E, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
- Phạm Thị Ú, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Ấp E, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
Người làm chứng:
- Ngô Văn H (vắng mặt)
- Trần Thị Tuyết M (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 05/01/2024, ông Ngô Văn H tổ chức uống rượu tại nhà ở Ấp E, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang cùng ông Lê Văn B, cả hai uống gần hết 01 lít rượu trắng thì bị cáo Nguyễn Thanh D đi ngang nhìn thấy thì ghé vào cùng uống rượu, lúc này ông H và ông B uống thêm khoảng 02 - 03 ly rượu thì lên võng nằm nghỉ, bị cáo D ra về. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo D quay trở lại nhà ông H, bị cáo D một mình rót rượu uống, ông B và ông H vẫn nằm trên võng. Do không muốn bị cáo D nhậu cùng, nên ông H và ông B có chửi thề kêu bị cáo D đi về để cho ông B và ông H nhậu tiếp, bị cáo D không về nên xảy ra cự cải với nhau, ông B dùng tay đánh vào mặt bị cáo D 01 cái, bị cáo D dùng tay đánh lại, cả hai kéo nhau đi xuống bờ kênh trước nhà ông H để tiếp tục đánh nhau. Trong lúc đánh nhau với ông B, bị cáo D nhìn thấy túi quần phía sau của ông B có một cái bóp, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt cái bóp lấy tiền. Trong lúc cả hai té xuống đất trong tư thế câu vật với nhau, bị cáo D dùng tay lấy cái bóp, sau đó lấy tiền bỏ vào túi quần của mình, vứt bỏ cái bóp và đi về nhà, ông B nằm khoảng 05-10 phút mới đứng lên được. Ông B đi đến phía trước sân nhà nói chuyện với ông H về việc bị cáo D lấy cái bóp của mình, trong bóp có số tiền là 3.950.000 đồng và 05 tờ vé số kiến thiết.
Khi về nhà, bị cáo D kiểm tra và xác định số tiền chiếm đoạt của ông B là 1.450.000 đồng. Do đánh nhau với ông B nên bị cáo D bị chấn thương, bị cáo D nhờ mẹ ruột điện thoại kêu ông Đinh Công P là y sĩ đến khám và truyền dịch, lúc này ông B đi đến gặp bị cáo D và yêu cầu trả lại số tiền đã chiếm đoạt, nhưng bị cáo D cho rằng mình không có lấy. Đối với số tiền bị cáo D chiếm đoạt, bị cáo D sử dụng trả tiền khám và tiền thuốc cho ông P là 350.000 đồng, đưa cho cha ruột là ông Nguyễn Văn X số tiền 500.000 đồng và đưa cho em ruột là anh Nguyễn Văn T số tiền 500.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo D tiêu xài cá nhân hết. Ông B đến Công an xã H trình báo vụ việc.
Quá trình điều tra, bị cáo D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định số tiền chiếm đoạt được của ông Lê Văn B là 1.450.000 đồng, ông B cho rằng số tiền bị cáo D chiếm đoạt là 3.950.000 đồng và 05 tờ vé số. Tuy nhiên, bị cáo D đã tác động gia đình và tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả theo yêu cầu bị hại Lê Văn B đủ số tiền 3.950.000 đồng (nộp 2.600.000 đồng và số tiền 1.350.000 đồng mà ông P, ông X và anh T giao nộp lại cho Cơ quan điều tra).
Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKS-HPH ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh D về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội Cướp tài sản. Áp dụng: khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 06/01/2024.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: đã xử lý xong nên không đề nghị xem xét.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của bị hại tại phiên tòa: không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Nguyễn Thanh D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vào ngày 05/01/2024, giữa bị cáo Nguyễn Thanh D và bị hại Lê Văn B có mâu thuẫn về lời nói trong lúc uống rượu chung nên dẫn đến cả hai xô xát và câu vật lẫn nhau, quá trình này kéo dài khoảng 20 – 30 phút tại phần đất phía trước nhà của ông Ngô Văn H. Trong quá trình câu vật thì bị cáo phát hiện trên người bị hại có cái bóp nhô ra, bị cáo nghĩ là có tiền nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Do vậy, lợi dụng lúc bị hại mệt, không còn chống cự nên bị cáo đã móc lấy bóp, lấy tiền bên trong rồi vứt bóp tại nơi đánh nhau và bỏ ra về. Về phía bị hại lúc này không còn khả năng chống cự với bị cáo nên vẫn tiếp tục nằm tại nơi đánh nhau khoảng 05 – 10 phút mới phát hiện bị mất tài sản. Quá trình điều tra xác định tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 1.450.000 đồng. Từ những hành vi khách quan nêu trên, có cơ sở để khẳng định bị cáo trong quá trình câu vật đánh nhau đã chiếm đoạt tài sản của bị hại là số tiền 1.450.000 đồng trong lúc bị hại không còn khả năng kháng cự lại nên Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo phạm tội cướp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo là người trong độ tuổi lao động, có con nhỏ cần được chăm sóc nhưng lại không chí thú làm ăn để giúp đỡ bản thân, gia đình và xã hội mà lại tham gia uống rượu dẫn đến hành vi đánh nhau rồi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo không những gây mất an ninh, trật tự tại địa phương mà còn tạo ra hình ảnh xấu đối với cộng đồng và xã hội. Do vậy, cần có mức hình phạt tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích. Qua đó cũng góp phần ngăn ngừa những hành vi tương tự nhằm đấu tranh và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
[4] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả cho người bị hại, tại phiên tòa bị hại cũng thừa nhận có một phần lỗi và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo, bị hại và các đương sự đã thỏa thuận xong trong quá trình điều tra nên không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh D phạm Tội cướp tài sản.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh D 03 (ba) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 06/01/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để bảo đảm thi hành án.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, đương sự được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hà Thái Thơ |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về hình sự (cướp tài sản)
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội cướp tài sản
