Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HSST

Ngày 01 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Lan.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trường Vũ và bà Lương Thị Kim Ngân

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mộng Thu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Hoài Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Tân An, thị xã Tân Châu Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, xét xử lưu động sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 29/2024/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

Huỳnh Thị Thu H, sinh 25/9/1980, tại Tân Châu, An Giang; nơi đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay): Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1956 và bà Võ Thị G, sinh năm 1958; chồng là Trần Thanh S, sinh năm 1976 và có 02 người con lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2004; nhân thân: tốt; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

Lê Văn T, sinh ngày 19/6/1967, tại Tân Châu, An Giang; nơi đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay): Áp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 (đã chết) và bà Lê Thị M (đã chết); vợ là Lê Hồng V, sinh năm 1975 (đã ly hôn) và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1991 và nhỏ nhất sinh năm 2009; nhân thân: tốt; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

Lương Thị Phương D, sinh ngày 18/7/1993, tại Tân Châu, An Giang; nơi đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay): Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn M1, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Kim H1, sinh năm 1963; chồng là Trần Phúc S1, sinh năm 1989 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013 và nhỏ nhất sinh năm 2020; nhân thân: tốt; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (có mặt);
  • Bà Đặng Thị L, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Ấp P, xã L, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (vắng);
  • Bà Bùi Thị M, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (có mặt);
  • Bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (văng);
  • Bà Trần Thị T, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (vắng);
  • Bà Đỗ Thị Bé H1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (vắng);
  • Bà Võ Thị Kim L, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (vắng);
  • Lâm Đơn S, sinh năm 1975; ; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (có mặt);
  • Bà Trần Thị Bích P, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (vắng);
  • Bà Dương Thị Anh T, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (vắng);
  • Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (vắng);
  • Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Ấp P, xã L, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (vắng).

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2023, Công an xã Vĩnh Xương kiểm tra tại nhà của Lê Văn T thuộc ấp A, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, phát hiện, bắt quả tang Tiền đang tổng hợp các con số đề do Tiền trực triếp ghi bán, thắng thua bằng tiền cho nhiều người chơi, thu giữ 03 tờ phơi đề với tổng số tiền 9.950.000 đồng và nhiều dụng cụ ghi bán số đề.

Quá trình điều tra, giám định điện thoại, xác định: Từ khoảng tháng 5/2023, Tiền trực tiếp bán số đề cho nhiều người và nhận phơi số đề của Lương Thị Phương D, sau đó, Tiền tổng hợp vào tờ phơi, sử dụng tài khoản Zalo “tiên” gửi hình ảnh phơi đề đến tài khoản Zalo "Je Na", để nộp phơi cho Huỳnh Thị Thu H, hưởng hoa hồng. Đồng thời, Tiền chiết phơi số gửi qua tài khoản Zalo “Kim Ngân” nhờ Đặng Thị L mua lại của Nguyệt (không rõ họ, địa chỉ) với tỷ lệ trúng thưởng cao hơn để hưởng chênh lệch. Ngày 22/12/2023, Tiền ghi bán 9.450.000 đồng, nhận phơi số của D với số tiền 500.000 đồng, sau khi tổng hợp vào 03 tời phơi với tổng số tiền 9.950.000 đồng, Tiền đã chụp ảnh, gửi Zalo 02 tờ phơi, với tổng số tiền 6.770.000 đồng cho H và 01 tờ phơi với số tiền 3.180.000 đồng cho Lan, bị bắt quả tang.

Ngoài nộp phơi số cho Tiền, từ ngày 15/12/2023 đến ngày 22/12/2023, Lương Thị Phương D trực tiếp ghi bán bán số đề, tự giữ lại thắng thua, với các lần đánh bạc trên 5.000.000 đồng, cụ thể:

  • Ngày 15/12/2023, ghi bán số đề với số tiền 2.005.000 đồng và trúng thưởng 3.050.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 5.055.000 đồng.
  • Ngày 20/12/2023, ghi bán số đề với số tiền 3.640.000 đồng và trúng thưởng 5.840.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 9.480.000 đồng
  • Ngày 21/12/2023, ghi bán số đề với số tiền 4.266.000 đồng và trúng thưởng 2.720.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 6.986.000 đồng
  • Ngày 22/12/2023, ghi bán số đề với số tiền 1.830.000 đồng, nộp cho Tiền 500.000 đồng, nộp cho Nguyễn Thị Thanh T2 70.000 đồng, còn lại tự giữ số lại để trực tiếp thắng thua.

Riêng Nguyễn Thị Thanh T2, ngày 22/12/2023, ngoài nhận phơi số của D với số tiền 70.000 đồng, Thúy còn ghi bán và giao nộp lại cho Trung (không rõ họ, địa chỉ) để hưởng huê hồng với số tiền đánh bạc là 2.525.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu đã khởi tố Huỳnh Thị Thu H, Lê Văn T, Lương Thị Phương D về tội Đánh bạc.

Tại kết luận giám định số 39 ngày 24/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh An Giang, kết luận:

  • Tìm thấy dữ liệu trong 03 điện thoại di động (ký hiệu A1-A3) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu gửi giám định, chi tiết thể hiện trong DVD dữ liệu trích xuất kèm theo.

Kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa DVD có tổng D lượng dữ liệu 3,35 GB.

Lời khai các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày như nội D vụ án, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập, thể hiện trong hồ sơ vụ án.

(Bút lục số: 452-586)

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo A12 (thu từ Nguyễn Thị Thanh T2).
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo A92 (thu từ Lương Thị Phương D).
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 (thu từ Lê Văn T).
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A01 (thu từ Nguyễn Thị Kim L).
  • 02 viết mực xanh, 01 viết mực đỏ.
  • 09 tờ giấy tập học sinh ghi chữ số bằng viết mực xanh, màu đỏ.
  • 06 tờ phơi đề.
  • Số tiền Việt Nam: 29.515.000 đồng.

Cáo trạng số: 25/CT-VKSTC-HS ngày 22/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố Huỳnh Thị Thu H, Lê Văn T, Lương Thị Phương D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Huỳnh Thị Thu H, Lê Văn T, Lương Thị Phương D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội D Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T2; bà Bùi Thị M và Lâm Đơn S giữ nguyên lời khai giai đoạn điều tra, truy tố.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị L; bà Trần Thị Tuyết M; bà Trần Thị T, bà Đỗ Thị Bé H; bà Võ Thị Kim L; bà Trần Thị Bích P; bà Dương Thị Anh T; bà Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị Kim L vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội D Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 35, 58 BLHS xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thu H từ 20.000.000 đồng - 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58, 54 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 03 tháng - 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lương Thị Phương D từ 06 tháng - 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”; Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Đối với vật là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng đề nghị tịch tiêu hủy: 02 viết mực xanh, 01 viết mực đỏ; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 04 điện thoại di động: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A12 (thu từ Nguyễn Thị Thanh T2); 01 điện thoại di động hiệu Oppo A92 (thu từ Lương Thị Phương D); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 (thu từ Lê Văn T); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A01 (thu từ Nguyễn Thị Kim L). Đối với số tiền Việt Nam: 29.515.000 đồng liên quan đến đánh bạc và tiền nộp thu lợi bất chính đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với:

  • Đặng Thị L, Nguyễn Thị Thanh T2, Bùi Thị M, Trần Thị Tuyết M, Trần Thị T, Đỗ Thị Bé H, Võ Thị Kim L, Lâm Đơn S, Trần Thị Bích P, Dương Thị Anh T, Nguyễn Thị N, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính .
  • Người tên Nguyệt, Trung chưa xác định rõ họ tên và địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.

Các bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:

    - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

    - Tại phiên tòa các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị L; bà Trần Thị Tuyết M; bà Trần Thị T, bà Đỗ Thị Bé H; bà Võ Thị Kim L; bà Trần Thị Bích P; bà Dương Thị Anh T; bà Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị Kim L đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

  2. [2] Về nội D: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội D Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, hành vi, mục đích phạm tội, cùng các vật chứng đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

    Từ khoảng tháng 5/2023 đến ngày 22/12/2023, tại khu vực ấp 4, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, các bị cáo Huỳnh Thị Thu H, Lê Văn T, Lương Thị Phương D có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô, số đề, thắng thua bằng tiền tại khu vực ấp 1, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, trong đó: Ngày 22/12/2023 Tiền đánh bạc với số tiền 9.950.000 đồng, H đánh bạc với số tiền 6.770.000 đồng. D có 03 lần đánh bạc vào các ngày 15/12/2023, 20/12/2023; 21/12/2023 với số tiền trên 5.000.000 đồng.

    Hành vi nêu trên của các bị cáo Huỳnh Thị Thu H, Lê Văn T, Lương Thị Phương D đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

  3. [3] Đồng phạm: Trong vụ án này các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, nhưng chỉ mang tính giản đơn không có sự câu kết chặt chẽ nên mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
  4. [4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là tệ nạn xã hội gây ra nhiều hệ lụy cho gia đình và xã hội, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội. Bên cạnh, xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hình sự còn quy định đánh bạc là tội phạm và những người vi phạm sẽ bị áp dụng chế tài là hình phạt.
  5. [5] Xét tính chất, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo Huỳnh Thị Thu H, Lê Văn T, Lương Thị Phương D đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc với hình thức giao nộp phơi số lô, số đề là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý nhằm hưởng lợi bất chính. Đánh bạc, trong đó có hình thức ghi số đề ăn thua bằng tiền, là tệ nạn xã hội gây ra nhiều hệ lụy cho gia đình và xã hội. Bên cạnh, xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hình sự còn quy định đánh bạc là tội phạm và những người vi phạm sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Thị Phương D có hành vi “Đánh bạc” nhiều lần, mỗi lần trên 5.000.000 đồng, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; các bị cáo thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Bị cáo Tiền có anh là Liệt sĩ và bị cáo H đang nhiễm HIV/AIDS. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 54 đối với bị cáo Tiền. Riêng bị cáo D có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Hành vi của các bị cáo Huỳnh Thị Thu H, Lê Văn T, Lương Thị Phương D là nguy hiểm cho xã hội, mất an ninh trật tự tại địa phương. Hiện nay, trên địa bàn thị xã Tân Châu loại tội phạm về đánh bạc trong đó có hành vi bán số đề thắng thua bằng tiền có chiều hướng gia tăng. Đánh giá toàn diện vụ án, căn cứ và tính chất hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo và các quy định của pháp luật Hội đồng xét xử, xét thấy, đối với bị cáo H mặc dù bị cáo H nhận phơi đề cho Tiền chia huê hồng nhưng số tiền đánh bạc không lớn, bản thân bị cáo H cũng thành khẩn khai báo, hợp tác tốt với cơ quan chức năng, phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng, bị cáo cũng bị nhiễm HIV/AIDS nên có thể xem xét áp dụng hình phạt tiền cũng đủ răn đe bị cáo. Riêng bị cáo Lê Văn T và Lương Thị Phương D cần phải áp dụng hình phạt tù giam, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đạt mục đích giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

  6. [6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, các bị cáo lao động tự do và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  7. [7] Về xử lý vật chứng: Đối với vật là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng đề nghị tịch tiêu hủy: 02 viết mực xanh, 01 viết mực đỏ; đối với: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A12 (thu từ Nguyễn Thị Thanh T2); 01 điện thoại di động hiệu Oppo A92 (thu từ Lương Thị Phương D); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 (thu từ Lê Văn T); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A01 (thu từ Nguyễn Thị Kim L); Tiền Việt Nam: 29.515.000 đồng liên quan đến đánh bạc. Xét, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

    (Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 13/6/2024).

    Theo Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  8. [8] Các vấn đề khác:

    Đối với : Đặng Thị L, Nguyễn Thị Thanh T2, Bùi Thị M, Trần Thị Tuyết M, Trần Thị T, Đỗ Thị Bé H, Võ Thị Kim L, Lâm Đơn S, Trần Thị Bích P, Dương Thị Anh T, Nguyễn Thị N, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính. Riêng người tên Nguyệt, Trung chưa xác định rõ họ tên và địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

  9. [9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Thị Thu H, Lê Văn T, Lương Thị Phương D phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thu H 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng);

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 03 (ba) tháng tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án, khấu trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 09 ngày (từ ngày 22/12/2023 đến ngày 31/12/2023).

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lương Thị Phương D 06 (sáu) tháng tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy:

  • 02 viết mực xanh;
  • 01 viết mực đỏ.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà Nước:

  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo A92;
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14;
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A01;
  • Số tiền Việt Nam: 29.515.000 đồng.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 13/6/2024).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Huỳnh Thị Thu H, Lê Văn T, Lương Thị Phương D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát thị xã Tân Châu;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Ngọc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HSST ngày 01/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 47/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thu H 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); bị cáo Lê Văn T 03 (ba) tháng tù; bị cáo Lương Thị Phương D 06 (sáu) tháng tù.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger