|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HSST Ngày: 31-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Mỹ Kỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hà
Bà Nguyễn Hoàng Bích Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thanh Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Hứa Hải Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến tại hai điểm cầu gồm: điểm cầu trung tâm tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong và điểm cầu thành phần tại cơ sở tạm giam của Công an huyện Tuy Phong với sự hỗ trợ của những người tiến hành tố tụng gồm: Ông Nguyễn Văn Thìn, Kiểm sát viên; ông Nguyễn Văn Thảo, Thư ký Tòa án đối với vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/HSST, ngày 26/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS, ngày 16/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn L; Giới tính: Nam; sinh ngày 04/12/1999, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: thôn 01, xã C, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: không; Cha: Nguyễn T; Mẹ: Huỳnh D; Anh, chị, em ruột: có 01 người, sinh năm 1997; Vợ, con: chưa có;
Tiền án: 01 tiền án: Tại bản án số 69/2022/HSST ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong tuyên phạt Nguyễn L 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tiền sự: 01 tiền sự. Tại quyết định số 20/2024/QĐ –TA ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 09 giờ ngày 20/3/2024, Nguyễn L dùng tiền cá nhân một mình đi đến khu vực bờ kè thuộc khu phố 02, thị trấn P, huyện Tuy Phong gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch) hỏi mua 100.000 đồng ma túy. Người thanh niên lấy từ trong túi quần bán cho Nguyễn L 01 tép heroin có đặc điểm là đoạn ống nhựa màu xanh, kích thước (02x01)cm hàn kín 02 đầu, bên trong đoạn ống nhựa có chứa chất rắn dạng nén màu trắng. Nguyễn L bỏ tép ma túy vào miệng ngậm lại mục đích đi về xã C để sử dụng.
Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Công an thị trấn P tuần tra đến khu vực bờ kè thuộc khu phố Minh Tân 2, thị trấn P, huyện Tuy Phong phát hiện bắt quả tang Nguyễn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong miệng của Nguyễn L có 01 đoạn ống nhựa màu xanh, kích thước (02x01) cm, bên trong đoạn ống nhựa chứa chất rắn dạng nén và Nguyễn L khai nhận chất rắn dạng nén là Heroine vừa mua được với mục đích sử dụng; thu giữ trong túi quần bên phải của Nguyễn L đang mặc có 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng bên trong không có gì.
Căn cứ bản Kết luận giám định số 346/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,0490 gam, là Heroin.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 39/CT – VKSTP - HS, ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.
Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn L từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ bị bắt 20/3/2024.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống nhựa màu xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0.0331 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong số 346 và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Phong, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/3/2024 tại khu vực bờ kè biển thuộc khu phố 02, thị trấn P, huyện Tuy Phong, Nguyễn L đã có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích lại tiếp tục tàng trữ 01 gói ma túy có khối lượng 0,0490 gam là Heroin để sử dụng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân gây ra tệ nạn xã hội và làm lây truyền các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho tính mạng và sức khỏe cộng đồng, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn L thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo trên cơ sở cân nhắc các tình tiết của vụ án và nhân thân xét thấy rằng cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, đồng thời qua đó nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận toàn bộ.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 đoạn ống nhựa màu xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0.0331 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong số 346 và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng do đây là các vật không có giá trị sử dụng và vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn L, do chưa rõ nhân thân, lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2024.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống nhựa màu xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0,0331 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 346 và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lâm Thị Mỹ Kỷ |
Nơi nhận:
|
4
5
Bản án số 47/2024/HSST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 47/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 02 năm 03 tháng tù
