Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/KDTM-PT

Ngày: 10/3/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hạnh
Các Thẩm phán :Bà Nguyễn Thị Phương Thủy
Ông Trần Anh Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 10/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử phúc thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 12/2025/TLPT-KDTM ngày 20/01/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 105/2024/KDTM-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận ĐĐ, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXX-PT ngày 21/2/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2025/QĐ – PT ngày 3/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần Đ

Trụ sở: Tầng C, Tòa nhà G số B N, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thị Bích L; Chức danh - Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hồng V (Theo giấy ủy quyền số 01/NAE-UQ ngày 19/02/2024). Có mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH Q

Trụ sở: Tầng H Tòa nhà V, số A T, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Văn phòng giao dịch: Tầng A, Tòa C - H, số A N, quận T, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị H - Chức danh: Tổng giám đốc. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và quá trình Toà án giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Tháng 11/2023, Công ty cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là N) và Công ty TNHH Q (sau đây gọi tắt là Q) ký Hợp đồng cung cấp dịch vụ số 23OOB00078-VLK và các Phụ lục Hợp đồng kèm theo (gồm Phụ lục hợp đồng số 02 và Phụ lục hợp đồng đảm bảo visa ký tháng 12/2023). Theo đó, N thuê Q cung cấp dịch vụ du lịch Hàn Quốc; cụ thể như sau:

  • Ngày khởi hành: 04/01/2024
  • Ngày kết thúc : 08/01/2024
  • Số lượng người đi: 17 người
  • Thời hạn Visa: 14 ngày kể từ ngày 04/01/2024
  • Giá trị hợp đồng trọn gói là: 377.295.008 VNĐ.
  • Tiến độ thanh toán gồm 3 đợt:
    • Đợt 1: Đ đặt cọc 113.188.502 VNĐ sau khi ký hợp đồng.
    • Đợt 2: Đ thanh toán 150.918.004 VNĐ sau khi có visa xuất nhập cảnh.
    • Đợt 3: Đ thanh toán số tiền còn lại là 113.188.502 VNĐ sau khi kết thúc tour du lịch, hai bên ký kết Biên bản nghiệm thu, thanh lý hợp đồng.

Đ đã nghiêm túc thực hiện theo quy định hợp đồng, thanh toán đầy đủ giá trị hợp đồng Đợt 1 và Đợt 2.

Trong quá trình tổ chức tour du lịch Hàn Quốc, phát sinh vụ việc như sau:

Ngày 06/01/2024, thành viên đoàn du lịch là ông Vũ Văn H1 (CCCD số: [...]; Ngày cấp: 28/06/2022; Nơi cấp: Cục trưởng cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội. Hộ chiếu: E00537258; Ngày cấp: 21/07/2023; Nơi cấp: Phòng Q1) đã bị lạc đoàn và không thể liên lạc được.

Tại thời điểm ông Vũ Văn H1 bị lạc đoàn, Q đã gây áp lực và yêu cầu N phải nộp ngay số tiền là 613.000.000 VNĐ thì mới xử lý đưa đoàn trở về Việt Nam; gồm:

  • Tiền tạm ứng bảo lãnh và xử lý chi phí phát sinh để đoàn du lịch được xuất cảnh trở về Việt Nam: 263.000.000 VNĐ.
  • Tiền tạm ứng phạt vi phạm Hợp đồng số 23OOB00078-VLK: 350.000.000 VNĐ.

Dưới sức ép của Q, N đã buộc phải chuyển ngay số tiền 613.000.000 VNĐ cho Đ vào ngày 07/01/2024 để hỗ trợ công tác đưa đoàn trở về Việt Nam.

Ngày 11/01/2024, Q có Bản cam kết như sau: Trường hợp ông Vũ Văn H1 quay trở về Việt Nam theo đúng thời hạn visa (14 ngày kể từ ngày nhập cảnh là ngày 04/01/2024) thì Q sẽ hoàn trả lại số tiền 263,000,000 VNĐ cho N, sau khi trừ đi chi phí là 200 USD/ngày tính từ ngày 06/01/2024 cho đến khi ông Vũ Văn H1 quay về lại Việt Nam.

Ngày 14/01/2024, ông Vũ Văn H1 đã quay trở về Việt Nam.

Theo quy định của Hợp đồng 23OOB00078-VLK và Bản cam kết ngày 11/01/2024; Qravel sẽ phải hoàn trả cho N toàn bộ số tiền 613.000.000 VNĐ (sau khi trừ đi chi phí phát sinh). Cụ thể như sau:

Đối với tạm ứng bảo lãnh và xử lý chi phí phát sinh để đoàn du lịch được xuất cảnh trở về Việt Nam: Sau khi trừ đi các chi phí phát sinh (200 USD/ngày và tổng là 9 ngày), số tiền Q phải hoàn trả lại N là 218.522.000 VNĐ (theo tỷ giá 01 USD=24,710 VNĐ của Ngân hàng V3 ngày 17/01/2024).

Đối với tiền tạm ứng phạt vi phạm Hợp đồng số 23OOB00078-VLK: 350.000.000 VNĐ.

  • + Theo quy định tại điểm 2.2 Khoản 2 của Phụ lục Hợp đồng đảm bảo visa: “Bên A sẽ phải chi trả cho Bên B số tiền là 350.000.000 VNĐ trên 01 trường hợp khách hàng ở lại bất hợp pháp tại Hàn Quốc và Bên A chuyển khoản cho Bên B trong vòng 02 ngày sau khi tour kết thúc”.
  • + Theo quy định pháp luật, V1 là giấy tờ chứng minh người nước ngoài được phép lưu trú hợp pháp tại nước sở tại trong khoảng thời gian nhất định. Khi hết hạn visa mà chưa xuất cảnh, người nước ngoài sẽ bị xem là đang ở lại bất hợp pháp và bị phạt hành chính theo quy định pháp luật.
  • + Thời hạn Visa Hàn Quốc của ông Vũ Văn H1 là 14 ngày kể từ ngày 04/01/2024. Mà ông H1 trở về Việt Nam ngày 14/01/2024 (vẫn trong thời hạn Visa). Như vậy, theo định pháp luật, ông H1 không thuộc trường hợp ở lại bất hợp pháp tại Hàn Quốc.
  • + Do vậy, N không thuộc trường hợp bị phạt vi phạm hợp đồng theo quy định tại điểm 2.2 Khoản 2 của Phụ lục Hợp đồng đảm bảo visa; và không bị phạt 350.000.000 VNĐ.
  • + Q phải hoàn trả số tiền 350.000.000 VNĐ cho N.
  • + Ngoài ra, việc Qravel gây áp lực và yêu cầu N phải nộp ngay số tiền là 613.000.000 VNĐ vào ngày 07/01/2024 (vẫn trong thời gian tổ chức tour) là không đúng quy định tại Hợp đồng số 23OOB00078-VLK.

Như vậy, giá trị quyết toán của Hợp đồng 23OOB00078-VLK như sau:

Đ phải thanh toán giá trị Đợt 3 còn lại của Hợp đồng 23OOB00078-VLK là 113.188.502 VNĐ.

Qravel hoàn trả lại Đ số tiền tạm ứng bảo lãnh và xử lý chi phí phát sinh (sau khi trừ đi chi phí thực tế) là 218.522.000 VNĐ.

Qravel hoàn trả lại Đ số tiền tạm ứng để xử lý phạt vi phạm hợp đồng là 350.000.000 VNĐ.

Sau khi đối trừ các khoản nêu trên Đ phải hoàn trả lại Đ số tiền là 455.333.498 VNĐ.

Đ đã nhiều lần đến làm việc trực tiếp và gửi văn bản yêu cầu Q phải nghiệm thu, thanh lý hợp đồng và hoàn trả số tiền còn lại của Hợp đồng 23OOB00078-VLK (gồm: Công văn số 03/2024/CV-NAE ngày 17/01/2024, Công văn số 123/2024/CV-NAE ngày 24/01/2024 và Công văn số 127/2024/CV-NAE ngày 26/01/2024).

Tuy nhiên, Q cố tình chây ỳ không hợp tác và không nghiệm thu, thanh lý hợp đồng, hoàn trả số tiền còn lại cho N.

Nay Công ty cổ phần Đ yêu cầu Tòa án nhân dân quận ĐĐ giải quyết những yêu cầu như sau:

  1. Buộc Công ty TNHH Q phải hoàn trả số tiền còn lại của Hợp đồng 23OOB00078-VLK với số tiền là 455.333.498 VNĐ. (Bằng chữ: Bốn trăm năm mươi lăm triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, bốn trăm chín mươi tám đồng).
  2. Buộc Công ty TNHH Q phải thanh toán tiền lãi chậm trả là 10%/năm của số tiền còn lại của Hợp đồng 23OOB00078-VLK nêu trên, tương đương với số tiền là 45.533.349 VNĐ (Bằng chữ: Bốn mươi lăm triệu, năm trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi chín đồng).

Tổng cộng số tiền mà Công ty TNHH Q phải thanh toán cho Công ty cổ phần Đ là: 500.866.847 VNĐ (Bằng chữ: Năm trăm triệu, tám trăm sáu mươi sáu nghìn, tám trăm bốn mươi bảy đồng).

Nguyên đơn đề nghị bị đơn nếu đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng trong tổng số tiền 350.000.000 đồng thì nguyên đơn đồng ý hòa giải, bị đơn thanh toán tiền nguyên đơn sẽ rút đơn khởi kiện.

Về án phí: Nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu gì khác.

* Bị đơn Công ty TNHH Q do bà Lê Thị H đại diện theo pháp luật có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Công ty TNHH Q có ký kết hợp đồng du lịch số 23OOB00078-VLK với Công ty Cổ Phần Đ về việc cung cấp dịch vụ tổ chức tour du lịch trọn gói tại Hàn Quốc từ ngày 05-08/01/2024. Tuy nhiên trong đoàn khách của Công ty cổ phần Đ có những khách hàng chưa từng đi du lịch nước ngoài, hộ khẩu thuộc những tỉnh nằm trong danh sách hạn chế của Đ Hàn Quốc và việc chốt lịch bay muộn nếu xin Visa đoàn theo diện nộp hồ sơ trực tiếp tại Đ Hàn Quốc có thể sẽ không kịp thời gian bay và phải lùi lịch bay. Vì vậy sau khi trao đổi với đại diện Công ty Đ hai bên đã thống nhất phương án xin Visa đoàn theo diện Bảo Lãnh.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023, Công ty Đ đã gửi cho Công ty Đ Công văn bảo lãnh số: 29/09/CV/2023 về việc Bảo lãnh nhân viên và khách mời với điều khoản cam kết toàn bộ các đại lý và khách mời có tên trong danh sách sẽ tuân thủ luật pháp nước sở tại, đi và về đúng hành trình. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chương trình du lịch theo hợp đồng thì ngày 06/01/2024 khách hàng Vũ Văn H1 của Công ty Đ đã tự ý tách khỏi đoàn du lịch khi chưa được sự đồng ý của Q và cắt hoàn toàn liên lạc với đoàn, chặn hết zalo, số điện thoại của trưởng đoàn và Hướng dẫn viên.

Theo đó Công ty Đ đã vi phạm hợp đồng theo các điều khoản 2 bên đã ký với nhau và nhận thấy đây là hành vi vi phạm và có dấu hiệu bỏ trốn, ở lại bất hợp pháp của khách hàng Vũ Văn H1. Tại thời điểm này, phía cung cấp L1 tại Hàn Quốc yêu cầu cần phải thanh toán trước các chi phí phát sinh và phí phạt trước khi đoàn trở về Việt Nam (phụ trách Land tour đã trao đổi trực tiếp với trưởng đoàn của Công ty Đ tại Hàn Quốc). Theo đó Q có đề nghị Đ thanh toán trước các chi phí này bao gồm số tiền 263.000.000VNĐ phát sinh và 350.000.000VNĐ phí phạt theo điều 2.2 Quyền và trách nhiệm của bên A trong Phụ lục Hợp đồng đảm bảo Visa ký giữa 2 bên.

Ngày 08/01/2024 sau khi chương trình tour kết thúc, Công ty Đ có mời Qravel sang văn phòng làm việc và Công ty Đ có đề nghị các bên chia sẻ khó khăn, và đề nghị V2 hỗ trợ 50% số tiền phạt. Tuy nhiên sau nhiều lần thảo luận và trao đổi thì Q chưa đồng ý số tiền này vì việc khách hàng thực hiện hành vi bỏ trốn đó ảnh hưởng vô cùng lớn đến uy tín, thương hiệu của Q với đối tác L1 và Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam. Hơn nữa ảnh hưởng trực tiếp đến việc Bảo lãnh xin Visa đoàn đối với các đoàn khách du lịch nước ngoài của Q.

Bị đơn đồng ý để cho nguyên đơn thanh toán giá trị Đợt 3 còn lại của Hợp đồng 23OOB00078-VLK là 113.188.502 đồng.

Bị đơn đồng ý hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng bảo lãnh và xử lý chi phí phát sinh (sau khi trừ đi chi phí thực tế) là 218.522.000 đồng.

Đối trừ nghĩa vụ Bị đơn đồng ý trả số tiền 105.333.498 đồng cho nguyên đơn. Đối với số tiền 350.000.000 đồng nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là số tiền tạm ứng chi phí xử lý vi phạm hợp đồng bị đơn chỉ đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng. Nếu nguyên đơn không đồng ý với phương án này thì nguyên đơn không đồng ý thanh toán cả số tiền 350.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền này do các bên chưa thống nhất được nên bị đơn không phải trả lãi.

Về án phí: Bị đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu gì khác.

* Người làm chứng ông Vũ Văn H1 trình bày: Ông là thành viên trong đoàn du lịch Hàn Quốc do Công ty cổ phần Đ tổ chức với thông tin như sau:

  • Ngày khởi hành: 04/01/2024
  • Ngày kết thúc : 08/01/2024
  • Số lượng người đi: 17 người
  • Thời hạn Visa: 14 ngày kể từ ngày 04/01/2024

Ngày 06/01/2024, trong quá trình theo đoàn đi du lịch Hàn Quốc, ông muốn đi gặp bạn bè tại Hàn Quốc và đã nhắn tin thông báo trên Group của đoàn.

Tuy nhiên, khi đi gặp bạn bè, ông đã phát sinh ra sự cố không mong muốn (bị ốm, sức khỏe không đảm bảo và bị mất điện thoại) nên ông đã bị mất liên lạc với đoàn du lịch, dẫn đến việc ông không thể cùng đoàn trở về Việt nam theo đúng lịch trình (là ngày 08/01/2024).

Ngày 14/01/2024, sau khi sức khỏe hồi phục, ông đã chủ động trở về Việt nam trong đúng thời hạn visa được cấp.

Trong quá trình du lịch ở Hàn Quốc, cũng như sau khi trở về Việt Nam, ông không bị bất kỳ cơ quan chức năng nào (cả Hàn Quốc và Việt Nam) liên hệ làm việc, cũng như không gặp trở ngại, vướng mắc nào trong quá trình nhập, xuất cảnh. Ông cam đoan lời khai của ông là đúng sự thật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc Công ty Q phải thanh toán số tiền 455.333.498 đồng và tiền lãi của số tiền gốc chậm thanh toán tính từ ngày 25/01/2024 đến ngày xét xử 26/9/2024 với lãi suất 10%/năm với số tiền là: 30.563.481 đồng.

Bị đơn Công ty TNHH Q vắng mặt không có lý do.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 105/2024/KDTM-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận ĐĐ, Hà Nội quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Đ đối với Công ty TNHH Q về việc thanh toán tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng du lịch số 23OOB00078-VLK tháng 11 năm 2023, không đề ngày.

- Xác nhận Công ty TNHH Q còn nợ Công ty cổ phần Đ tổng số tiền nợ gốc và lãi là: 485.896.979 đồng (Bốn trăm tám mươi tám trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm bảy mươi chín đồng). Buộc Công ty TNHH Q phải thanh toán cho Công ty cổ phần Đ tổng số tiền là: 485.896.979 đồng (Bốn trăm tám mươi tám trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm bảy mươi chín đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn - Công ty TNHH Q có đơn kháng cáo với nội dung: Không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty TNHH Q phải hoàn trả Công ty Công ty cổ phần Đ số tiền 350.000.000 đồng.

Ngoài đơn kháng cáo, người kháng cáo không cung thêm cấp tài liệu, chứng cứ khác.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm:

Công ty cổ phần Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Công ty TNHH Q giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Công ty TNHH Q trình bày nội dung kháng cáo như sau: Công ty TNHH Q không đồng ý hoàn trả Công ty cổ phần Đ số tiền 350.000.000 đồng với lý do số tiền trên Công ty Đ tự nguyện thanh toán cho Công ty Q để giải quyết sự việc 01 khách hàng của Công ty Đ bỏ trốn khỏi đoàn. Nội dung này đã được thỏa thuận trong Hợp đồng 23OOB00078, Biên bản làm việc ngày 8/01/2024 và tin nhắn trao đổi giữa đại diện các bên.

- Đại diện Công ty cổ phần điện tử N trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của Công ty TNHH Q với lý do: Tại Phụ lục HĐ đảm bảo visa tại mục 2.2 Điều 2, các bên thỏa thuận “....bên A sẽ phải chị trả cho bên B số tiền 350.000.000 đồng trên 01 trường hợp khách ở lại bất hợp pháp tại Hàn Quốc...”. Ông Vũ Văn H1 ở lại Hàn Quốc trong thời hạn của Visa, không thuộc trường hợp “ở lại bất hợp pháp” nên Công ty Q yêu cầu Công ty Cổ phần Đ phải chi trả số tiền 350.000.000 đồng là không có căn cứ.

Các đương sự thống nhất xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã nộp cho Tòa án thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác để nộp cho Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên tòa và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, xét thấy việc ký kết hợp đồng giữa hai bên là tự nguyện, đã được xác định bằng chữ ký và con dấu của những người có thẩm quyền. Như vậy, các bên tham gia ký kết hợp đồng đáp ứng đủ điều kiện về chủ thể, về nguyên tắc ký kết hợp đồng và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực thi hành, Hợp đồng và các phụ lục hợp đồng có giá trị pháp lí nên kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, bác kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Xét về thủ tục kháng cáo:

- Đơn kháng cáo do người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Q ký. Đơn kháng cáo và biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm làm và nộp trong thời hạn luật định nên kháng cáo được chấp nhận. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh từ hợp đồng cung ứng dịch vụ nên là tranh chấp kinh doanh thương mại. Bị đơn là Công ty TNHH Q; có trụ sở: Tầng H Tòa nhà V, số A T, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân quận ĐĐ thụ lý và giải quyết sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

- Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự trong vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự có mặt theo Giấy triệu tập nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung kháng cáo:

Công ty Cổ phần Đ và Công ty TNHH Q đã ký kết Hợp đồng du lịch số 23OOB00078-VLK tháng 11 năm 2023, không đề ngày về việc cung cấp dịch vụ tổ chức tour du lịch trọn gói tại Hàn Quốc từ ngày 05-08/01/2024, hợp đồng được ký giữa đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần Đ và đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Q. Hai bên còn ký các Phụ lục Hợp đồng kèm theo (gồm Phụ lục hợp đồng số 02 và Phụ lục hợp đồng đảm bảo visa ký tháng 12/2023). Xét về hình thức Hợp đồng và Phụ lục hợp đồng được lập bằng văn bản, người tham gia ký kết Hợp đồng là đại diện hợp pháp của hai Công ty. Như vậy, các bên tham gia ký kết hợp đồng đáp ứng đủ điều kiện về chủ thể, về nguyên tắc ký kết hợp đồng và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực thi hành.

Xét kháng cáo của Công ty TNHH Q về việc không đồng ý với quyết định của Bản án sơ thẩm, buộc Công ty Q phải hoàn trả công ty Cổ phần Đ số tiền tạm ứng phạt vi hợp đồng đã nhận là 350.000.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ và theo nội dung Hợp đồng cung cấp dịch vụ du lịch số 23OOB00078-VLK thể hiện: Công ty Đ cung cấp dịch vụ du lịch Hàn Quốc, cụ thể như sau: Ngày khởi hành: 04/01/2024; Ngày kết thúc: 08/01/2024; Số lượng người đi: 17 người; Thời hạn Visa: 14 ngày kể từ ngày 04/01/2024, Giá trị hợp đồng trọn gói là: 377.295.008 VNĐ. Tiến độ thanh toán gồm 3 đợt: Đợt 1: Đ đặt cọc 113.188.502 VNĐ sau khi ký hợp đồng; Đợt 2: Đ thanh toán 150.918.004 VNĐ sau khi có visa xuất nhập cảnh. Đợt 3: Đ thanh toán số tiền còn lại là 113.188.502 VNĐ sau khi kết thúc tour du lịch, hai bên ký kết Biên bản nghiệm thu, thanh lý hợp đồng. Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty Q 264.106.506 đồng, các bên không có tranh chấp về nội dung này.

Trong quá trình tổ chức tour du lịch Hàn Quốc, phát sinh vụ việc, thành viên đoàn du lịch là ông Vũ Văn H1 đã bị lạc đoàn và không thể liên lạc được. Công ty TNHH Q đã yêu cầu Công ty Đ phải nộp số tiền 613.000.000 đồng để xử lý hỗ trợ đưa đoàn trở về Việt Nam, trong đó có 350.000.000 đồng là tiền tạm ứng phạt vi phạm Hợp đồng số 23OOB00078-VLK: 350.000.000 VNĐ. Tuy nhiên, ngày 14/01/2024, ông Vũ Văn H1 đã quay trở về Việt Nam. Theo hạn visa của ông H1 được đại sứ quán Hàn Quốc cấp là 14 ngày kể từ ngày 04/01/2024 nên ngày hết hạn visa là ngày 19/01/2024. Ông H1 trở về Việt Nam vào ngày 14/01/2024 là trong thời hạn của visa. Theo quy định của pháp luật, V1 là giấy tờ chứng minh người nước ngoài được phép lưu trú hợp pháp tại nước sở tại trong khoảng thời gian nhất định. Khi hết hạn visa mà chưa xuất cảnh, người nước ngoài sẽ bị xem là đang ở lại bất hợp pháp và bị phạt hành chính theo quy định pháp luật. Điều 35 Nghị định số 95 ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cũng quy định về việc ở lại trái phép tại nước ngoài. Trong thời gian ông H1 lạc khỏi đoàn du lịch cho đến khi về nước ông H1 không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Hàn Quốc xử phạt về hành vi bỏ trốn hay ở lại bất hợp pháp. Tòa án đã yêu cầu Công ty Q giao nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh ông Vũ Văn H1 đã có hành vi bỏ trốn hay ở lại Hàn Quốc bất hợp pháp, ông H1 bị cơ quan nhà nước của Hàn Quốc xử phạt, biên lai xử phạt nếu có cũng như các tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế của Công ty TNHH Q do hành vi ở lại Hàn Quốc của ông Vũ Văn H1 gây ra nhưng bị đơn không có tài liệu để giao nộp cho Tòa án.

Tại điểm 2.2 Khoản 2 của Phụ lục Hợp đồng đảm bảo visa hai bên ký kết có quy định: “Bên A sẽ phải chi trả cho Bên B số tiền là 350.000.000 VNĐ trên 01 trường hợp khách hàng ở lại bất hợp pháp tại Hàn Quốc và Bên A chuyển khoản cho Bên B trong vòng 02 ngày sau khi tour kết thúc”. Tuy nhiên, việc ông H1 ở lại Hàn Quốc trong khoảng thời gian từ ngày 06/01/2024 đến ngày 14/01/2024 trong thời hạn của visa được cấp (không phải là ở lại bất hợp pháp) nên Công ty Cổ phần Đ đã không vi phạm Hợp đồng dịch vụ và điểm 2.2 Phụ lục hợp đồng bảo đảm visa nên Công ty Đ không phải chịu phạt số tiền 350.000.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty TNHH Q phải trả lại số tiền 350.000.000 đồng cho Công ty cổ phần Đ là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của Công ty TNHH Q về nội dung này không được chấp nhận.

Về lãi suất chậm thanh toán:

Sau khi đối trừ nghĩa vụ thanh toán giá trị đợt 3 của Hợp đồng 23OOB00078-VLK là 113.188.502 đồng, Công ty TNHH Q phải thanh toán cho Công ty cổ phần Đ tổng số tiền gốc là: 455.333.498 đồng (Bốn trăm năm mươi lăm triệu ba trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm chín mươi tám đồng). Ngày 24/01/2024, Công ty Đ đã có công văn yêu cầu thanh toán số tiền trên nhưng đến nay Công ty Q chưa thanh toán. Theo quy định tại Điều 357 Bộ Luật Dân sự 2015 và Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 thì mặc dù Hợp đồng kinh tế số 23OOB00078-VLK không thỏa thuận về lãi chậm thanh toán nhưng Công ty Đ có quyền yêu cầu về tiền lãi chậm thanh toán theo quy định của pháp luật. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần Đ buộc Công ty TNHH Q phải thanh toán tiền lãi với số tiền chậm thanh toán là đúng quy định của pháp luật.

Theo hướng dẫn tại Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định: “Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 thì khi xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần N1, Ngân hàng thương mại cổ phần C, Ngân hàng N2,...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác".

Tại cấp phúc thẩm, theo yêu cầu của Tòa án, Công ty Đ cung cấp lãi suất quá hạn trung bình của 03 ngân hàng thương mại để tính lãi chậm trả theo Điều 306 Luật thương mại, hiện nay đang ở mức là: 13,7%/năm. Tuy nhiên, Công ty cổ phần Đ đề nghị Hội đồng xét vẫn áp dụng mức lãi suất là 10%/năm. Xét thấy, mức lãi suất 10%/năm là thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của 03 Ngân hàng và có lợi cho cho Công ty TNHH Q. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất chậm trả là 10%/năm. Buộc Công ty TNHH Q phản chịu lãi đối với số tiền chậm thanh toán tính từ ngày 25/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (26/9/2024) là 30.563.481 đồng.

Các nội dung khác liên quan đến quyết định của bản án sơ thẩm:

Tại cấp sơ thẩm, Tòa án không yêu cầu Công ty cổ phần Đ cung cấp lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của 03 Ngân hàng theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại năm 2005 nhưng đã chấp nhận yêu cầu mức lãi suất 10%/năm là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Do đó, đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về nội dung nêu trên.

[3]. Về án phí: Do không được chấp nhận kháng cáo nên Công ty TNHH Q phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 357, Điều 468; Điều 513, Điều 515, Điều 518, Điều 519 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280, khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 74, Điều 87, Điều 306 Luật thương mại 2005;

- Căn cứ Điều 11, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Q, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Đ đối với Công ty TNHH Q về việc thanh toán tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng du lịch số 23OOB00078-VLK tháng 11 năm 2023 (không đề ngày):

Buộc Công ty TNHH Q phải thanh toán cho Công ty cổ phần Đ tổng số tiền là: 485.896.979 đồng; trong đó số tiền nợ gốc là: 455.333.498 đồng; lãi chậm thanh toán là 30.563.481 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí kinh doanh thương mại:

- Án phí sơ thẩm:

Công ty TNHH Q phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền là 23.435.879 đồng.

Hoàn trả Công ty cổ phần Đ số tiền 12.017.337 đồng tại Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 21/03/2024 tại Công ty cổ phần T1, đơn vị nhận tiền: Chi cục thi hành án dân sự quận ĐĐ, Thành phố Hà Nội.

- Án phí phúc thẩm: Công ty TNHH Q phải chịu 2.000.000 đồng án phí phúc thẩm, được trừ 2.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 00652787 ngày 01/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận ĐĐ, Hà Nội.

3. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thi thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND quận ĐĐ;
  • - Chi cục THADS quận ĐĐ;
  • - Các Đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/KDTM-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng dịch vụ.

  • Số bản án: 47/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CÔNG TY Đ - CÔNG TY Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger