Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HSST

Ngày 24 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hồ Văn Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Rạng Đông – Công tác tại Hội khuyến học thành phố Phú Quốc.

2. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Cẩm Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghị - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐHPT ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đông P (tên gọi khác: P1), sinh ngày 22/11/2007, tại P, Kiên Giang; số thẻ CCCD: [...], cấp ngày 33/5/2022; nơi thường trú: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện nay: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Việt P2 và bà Nguyễn Thị Thanh X; anh chị em có 01 người, sinh năm 2004; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: 01 tiền án. Ngày 16/5/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xử 01 năm cải tạo không giam giữ về tội Gây rối trật tự công cộng, theo Bản án số 65/2024/HSST; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 cho đến nay.

2. Họ và tên: Phù Ty T, sinh ngày 18/3/2007, tại P, Kiên Giang; số thẻ CCCD: [...], cấp ngày 28/4/2022; nơi thường trú: Khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện nay: Khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phù Văn C và bà Phạm Thị D; anh chị em có 02 người, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2015; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: 01 tiền án. Ngày 31/5/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xử phạt 02 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, theo Bản án số 85/2024/HSST; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2024 cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Phương Đ:

1. Ông Nguyễn Việt P2, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1983 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phù Ty T:

1. Ông Phù Văn C, sinh năm 1976 (có mặt).

2. Bà Phạm Thị D, sinh năm 1976 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

- Người bị hại:

1. Diệp Duy B, sinh năm 2008 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại B: Ông Diệp Duy D1, sinh năm 1976 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

2. Diệp Duy H, sinh năm 1996 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Võ Duy P3, sinh năm 2010.

Địa chỉ: Khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).

Người đại diện theo pháp luật của Võ Duy P3: Bà Nguyễn Thị X1, sinh năm 1983 và ông Võ Văn P4, sinh năm 1978 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đông P và Phù Ty T: Ông Mai Tấn T1, sinh năm 1991 – Là Trợ giúp viên - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Phù Ty T: Luật sư Đặng Thanh S – Văn phòng L, thuộc đoàn Luật sư Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ, ngày 12/10/2024, Diệp Duy B đang dừng xe mua chả cá viên chiên tại công viên B, thuộc khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, lúc này Nguyễn Đông P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68MA – 033.44 (xe của Lương Thị T2), chở Trần Thành Đ1 chạy đi ngang qua, P cho rằng Diệp Duy B “nhìn đểu” P, nên P chở Trần Thành Đ1 quay xe lại chỗ Duy B, P xuống xe xông vào dùng tay và nón bảo hiểm đánh Duy B thì được Trần Thành Đ1 can ngăn, Duy B không bị thương. Sau đó, P điều khiển xe mô tô chở Đ1 chạy đi, còn B điều khiển xe mô tô chạy đi về nhà ở ấp S, xã D, thành phố P, Kiên Giang kể lại sự việc bị đánh cho anh ruột của B là Diệp Duy H và Diệp Khánh Q biết. Sau đó, H và Q mới kêu B cùng đến phường D tìm P để hỏi lý do đánh B.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68X1 – 518.20, chở Q, còn B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68X1 – 035.29 chạy đến tuyến đường N, thuộc khu phố H, phường D, thành phố P thì phát hiện P và Phù Ty T điều khiển xe mô tô chạy trên đường nên chạy theo để hỏi sự việc. Lúc này P nhìn thấy nên nói với T có người đuổi theo và cả hai điều khiển xe mô tô tăng ga chạy đến đường N, khu phố H, phường D thấy nhóm H, Q và B không chạy theo kịp nhóm P nên quay xe lại chạy đến khu vực khu phố D và khu phố H, phường D. Sau đó, P và T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68MA – 033.44 chạy đến nhà của Võ Duy P3 (sinh ngày 15/3/2010), thuộc khu phố H, phường D, P kêu P3 lấy hung khí để đi chém nhóm của H, Q và B. Sau đó, P3 đi vào nhà của mình lấy 01 cây dao tự chế (dạng dao phóng lợn) đưa cho T và P 01 cây dao dài khoảng 60cm, lưỡi dao bằng kim loại, P3 cầm 01 cây kiếm N, dài khoảng 01m. Lúc này, P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68MA – 033.44 chạy chở T và P3, cầm theo hung khí đi tìm nhóm của H, Q và B để chém.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi nhóm của P đến công viên B, thuộc khu phố B, phường D thì H, Q và B dừng xe, còn P và T cầm dao phóng lợn xông đến chém H, thì H dùng bàn nhựa gần đó chống đỡ, khống chế được cây dao T đang cầm trên tay, rồi quật T ngã xuống đất, P dùng dao chém trúng vào vai, lưng của H nên H tránh né trúng vào đầu bị thương, còn P3 cầm kiếm N rượt đuổi theo Q và B, chém vào tay phải của B gây thương tích. Lúc này, T giật lấy cây dao trong tay của H rồi T bỏ chạy. Sau đó, P điều khiển xe mô tô chở T và P3 chạy về nhà, P đưa hung khí cho P3 cất giấu. Sau khi sự việc xảy ra H và B được đưa vào Trung tâm y tế thành phố P cấp cứu. Sau đó, chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh K tiếp tục điều trị.

Ngày 14/10/2024, P và T đến Công an phường D đầu thú. Đến ngày 23/10/2024, Nguyễn Đông P và Phù Ty T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.

Vật chứng thu giữ gồm:

+ 01 (một) nón bảo hiểm bằng nhựa màu đen, dạng lưỡi trai, không có xốp lót, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Đông P);

+ 01(một) cây dao tự chế, dài khoảng 113cm, cán dao bằng kim loại, dạng ống, dài khoảng 88cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 25cm, có mũi nhọn và có một cạnh sắt bén được hàn vào cán dao (thu giữ của Phù Ty T);

+ 01 cây kiếm dài khoảng 94cm, cán bằng gỗ dài khoảng 26cm, lưỡi kiếm bằng kim loại, hình cong cánh cung, dài khoảng 68cm, có một cạnh sắc bén (thu giữ của Võ Duy P3);

+ 01 xe mô tô loại Cub 50, màu xám bạc, biển kiểm soát số 68MA - 033.44 (thu giữ của ông Trần Lương Trí V).

Đối với cây dao của Nguyễn Đông P sử dụng làm hung khí, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã tiến hành truy tìm, nhưng không tìm gặp.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số:

792/KLTTCT-PY ngày 10/12/2024

của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh K kết luận thương tích của Diệp Duy B như sau:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định: Vết thương mặt lưng ngón II tay phải, gãy xương đốt gần ngón II. Hiện xương không di lệch, không hạn chế vận động tay phải.

- Kết quả cận lâm sàng: Gãy xương đốt gần ngón II.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Diệp Duy B tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Vật gây thương tích: vật có cạnh sắc.

2.3. Về cơ chế hình thành thương tích: Thương tích ở vùng mặt lưng ngón II tay phải do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ sau ra trước so với trục giải phẫu của cơ thể.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số:

7923/KLTTCT-PY ngày 10/12/2024

của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh K kết luận Diệp Duy H như sau:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định:

+ Sẹo phần mềm vùng đỉnh – thái dương phải.

+ Vết thương vai trái, gãy xương mỏm cùng vai trái.

- Kết quả cận lâm sàng: Gãy xương mỏm cùng vai trái.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Diệp Duy H tại thời điểm giám định là: 14% (Mười bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên hiện tại thời điểm giám định ở:

- Vùng đỉnh – thái dương phải là: 02% (Hai phần trăm).

- Vùng vai trái là: 11,8% (Mười một phẩy tám phần trăm).

2.3. Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc gây nên.

2.4. Về cơ chế hình thành thương tích:

- Thương tích ở vùng đỉnh – thái dương phải do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ phải qua trái so với trục giải phẫu của cơ thể.

- Thương tích ở vùng vai trái do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước so với trục giải phẫu của cơ thể.

Tại kết luận giám định vật gây thương tích số: 794/KLVGTT-PY ngày 10/12/2024

của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh K kết luận Diệp Duy B như sau:

1. Các kết quả chính:

- Mẫu vật (cây kiếm) là vật có cạnh lưỡi sắc (dạng vật có cạnh sắc).

- Thương tích ở vùng ngón II tay phải của Diệp Duy B do vật có cạnh sắc gây nên.

2. Kết luận: Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định: Mẫu vật (cây kiếm) có đặc tính giống với đặc tính vật gây thương tích ở vùng ngón II tay phải của Diệp Duy B nên có thể gây ra được thương tích ở vùng ngón II tay phải của Diệp Duy B.

Tại Cáo trạng số: 41/CT-VKSPQ ngày 20/01/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đông P và Phù Ty T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc phát biểu:

Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đông P và Phù Ty T phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đông P mức án từ 12 đến 18 tháng tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phù Ty T mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo P và người bị hại Diệp Duy H và Diệp Duy B, đồng ý bồi thường cho bị hại H số tiền 38.420.760 đồng và bồi thường cho bị hại B số tiền 13.189.000 đồng, tổng cộng 51.609.760 đồng. Gia đình bị cáo P đã bồi thường cho bị hại H và B tổng cộng 30.000.000 đồng, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho người bị hại.

Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo T và người bị hại Diệp Duy H và Diệp Duy B, đồng ý bồi thường cho bị hại H số tiền 38.420.760 đồng và bồi thường cho bị hại B số tiền 13.189.000 đồng, tổng cộng 51.609.760 đồng. Gia đình bị cáo T đã bồi thường cho bị hại H và B tổng cộng 10.000.000 đồng, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho người bị hại.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: 01 (một) nón bảo hiểm bằng nhựa màu đen, dạng lưỡi trai, không có xốp lót, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Đông P); 01(một) cây dao tự chế, dài khoảng 113cm, cán dao bằng kim loại, dạng ống, dài khoảng 88cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 25cm, có mũi nhọn và có một cạnh sắt bén được hàn vào cán dao (thu giữ của Phù Ty T) và 01 cây kiếm dài khoảng 94cm, cán bằng gỗ dài khoảng 26cm, lưỡi kiếm bằng kim loại, hình cong cánh cung, dài khoảng 68cm, có một cạnh sắc bén (thu giữ của Võ Duy P3).

Đối với 01 xe mô tô loại Cub 50, màu xám bạc, biển kiểm soát số 68MA - 033.44 do anh Trần Lương Trí V giao nộp là của bà Lương Thị T2 đứng tên. Bà T2 không có lỗi trong việc giao phương tiện cho các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố phú Q1 đã trao trả cho bà T2 là chủ sở hữu đề nghị miễn xét.

Đối với cây dao của Nguyễn Đông P sử dụng làm hung khí, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã tiến hành truy tìm, nhưng không tìm gặp đề nghị miễn xét.

* Ý kiến của Trợ giúp Viên ông Mai Tấn T1, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đông P và Phù Ty T:

Thống nhất với cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên, tại phiên tòa hai bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hai bị cáo đều còn trẻ tuổi chưa nhận thức được hết hành vi của mình. Hành vi của hai bị cáo cũng có một phần lỗi của người bị hại. Hai bị cáo ra đầu thú và đã khắc phục một phần hậu quả cho bị hại và người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo. Nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để tuyên cho hai bị cáo mức án bằng với thời hạn tạm giữ cũng đủ giáo dục hai bị cáo.

* Ý kiến của Luật sư Đặng Thanh S bào chữa cho bị cáo Phù Ty T:

Việc truy tố bị cáo với tình tiết định khung có tính chất côn đồ là không phù hợp vì: Theo Công văn số 38/NCPL ngày 06/01/1976 của TANDTC, Nghi quyết 02/2003/NQ-HĐTP và án lệ số 17/2018/AL thì coi là có tính chất côn đồ phải thỏa mãn các điều kiện sau: Hành vi gây thương tích phải diễn ra một cách hung hãn, coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả. Người phạm tội tấn công nạn nhân một cách vô cớ hoặc chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, không đáng kể. Hành vi thể hiện sự liều lĩnh, táo bạo, manh động, có tính chất thách thức, xem thường kỷ cương pháp luật. Cách thức phạm tội tàn bạo, thể hiện ý thức tấn công một chiều, không có sự kiềm chế hoặc phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo T không thỏa mãn những điều kiện này. Và hành vi của bị cáo có nguyên nhân mâu thuẫn từ hai phía. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo ra đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, bù đắp tổn thất, thiệt hại cho bị hại. Do đó, có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Do bị cáo có 03 tình tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 nên đề nghị áp dụng Điều 54 BLHS để áp dụng hình phạt nhẹ hơn cho bị cáo. Đồng thời, bị cáo chưa thành niên nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 101 BLHS cho bị cáo khi lượng hình. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng mức án treo theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đông P và Phù Ty T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 12/10/2024, tại khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Đông P, Phù Ty T và Võ Duy P3 (sinh ngày 15/2/2010) dùng dao và kiếm chém Diệp Duy B gây thương tích tỷ lệ 03% và Diệp Duy H gây thương tích tỷ lệ 14%. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Đông P và Phù Ty T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, bất kỳ ai xâm phạm đều sẽ bị nghiêm trị. Nhưng chỉ vì các bị cáo nghĩ người bị hại “nhìn đểu” mà các bị cáo dùng dao, kiếm là những loại hung khí nguy hiểm chém bị hại gây thương tích. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm mới đủ tính răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Đông P là người rủ rê, lôi kéo bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội nên mức án của bị cáo cao hơn bị cáo T mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Còn bị cáo T khi P đưa hung khí rủ đi đánh nhau chẳng những bị cáo không can ngăn mà còn đồng ý thực hiện, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm giúp sức, nên phải chịu mức hình phạt tương xứng với vai trò của bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo P có 01 tiền án về tội Gây rối trật tự công cộng bị xử phạt 12 tháng cải tạo không giao giữ, chưa chấp hành xong bản án, chưa được xóa án tích. Bị cáo T có 01 tiền án về tội Cố ý gây thương tích, bị xử phạt 02 năm tù, chưa chấp hành xong bản án, chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này hai bị cáo đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả, trong đó bị cáo P khắc phục được 30 triệu, (được hơn 50% hậu quả), bị cáo T khắc phục được 10 triệu (chưa được 50% hậu quả), do đó cần áp dụng thêm cho bị cáo P tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Đồng thời, người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo nên cần áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS để giải nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo khi lượng hình. Khi phạm tội hai bị cáo là người chưa thành niên nên được áp dụng Điều 91và khoản 1 Điều 101 BLHS để quyết định hình phạt cho hai bị cáo theo quy định pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo P và người bị hại Diệp Duy H và Diệp Duy B, đồng ý bồi thường cho bị hại H số tiền 38.420.760 đồng và bồi thường cho bị hại B số tiền 13.189.000 đồng, tổng cộng 51.609.760 đồng. Gia đình bị cáo P đã bồi thường cho bị hại H và B tổng cộng 30.000.000 đồng, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho người bị hại H là 21.609.760 đồng.

Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo T và người bị hại Diệp Duy H và Diệp Duy B, đồng ý bồi thường cho bị hại H số tiền 38.420.760 đồng và bồi thường cho bị hại B số tiền 13.189.000 đồng, tổng cộng 51.609.760 đồng. Gia đình bị cáo T đã bồi thường cho bị hại H và B tổng cộng 10.000.000 đồng, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho người bị hại H và B là 41.609.760 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: 01 (một) nón bảo hiểm bằng nhựa màu đen, dạng lưỡi trai, không có xốp lót, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Đông P); 01(một) cây dao tự chế, dài khoảng 113cm, cán dao bằng kim loại, dạng ống, dài khoảng 88cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 25cm, có mũi nhọn và có một cạnh sắt bén được hàn vào cán dao (thu giữ của Phù Ty T) và 01 cây kiếm dài khoảng 94cm, cán bằng gỗ dài khoảng 26cm, lưỡi kiếm bằng kim loại, hình cong cánh cung, dài khoảng 68cm, có một cạnh sắc bén (thu giữ của Võ Duy P3).

Đối với 01 xe mô tô loại Cub 50, màu xám bạc, biển kiểm soát số 68MA - 033.44 do anh Trần Lương Trí V giao nộp là của bà Lương Thị T2 đứng tên. Bà T2 không có lỗi trong việc giao phương tiện cho các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an – Thành phố phú Q1 đã trao trả cho bà T2 là chủ sở hữu đề nghị miễn xét.

Đối với cây dao của Nguyễn Đông P sử dụng làm hung khí, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã tiến hành truy tìm, nhưng không tìm gặp đề nghị miễn xét.

[7] Đối với Võ Duy P3, sinh ngày 15/3/2010, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên không chịu trách nhiệm hình sự đối với tội nghiêm trọng nên Công an thành phố P xử lý hành chính nên không xem xét.

Đối với Lương Thị T2 không có lỗi trong việc giao xe mô tô cho các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên không xử lý.

[8] Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận. Chấp nhận một phần bào chữa của Trợ giúp viên cho hai bị cáo, và chấp nhận một phần lời bào chữa của Luật sư cho bị cáo T.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

1.1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đông P (P) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đông P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 14/10/2024.

Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc. Cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ, tương đương với 04 tháng tù. Buộc bị cáo Nguyễn Đông P phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 14/10/2024.

1.2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phù Ty T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phù Ty T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 19/10/2024.

Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc. Buộc bị cáo Phù Ty T phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 19/10/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo P và người bị hại Diệp Duy H và Diệp Duy B, đồng ý bồi thường cho bị hại H số tiền 38.420.760 đồng và bồi thường cho bị hại B số tiền 13.189.000 đồng, tổng cộng 51.609.760 đồng. Gia đình bị cáo P đã bồi thường cho bị hại H và B tổng cộng 30.000.000 đồng, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho người bị hại Diệp Duy B số tiền còn lại là 21.609.760 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm lẻ chín nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).

Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo T và người bị hại Diệp Duy H và Diệp Duy B, đồng ý bồi thường cho bị hại H số tiền 38.420.760 đồng và bồi thường cho bị hại B số tiền 13.189.000 đồng, tổng cộng 51.609.760 đồng. Gia đình bị cáo T đã bồi thường cho bị hại H và B tổng cộng 10.000.000 đồng, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho người bị hại Diệp Duy H số tiền 33.420.760 đồng và người bị hại Diệp Duy B số tiền 8.189.000 đồng. Tổng cộng 41.609.760 đồng (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm lẻ chín nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nón bảo hiểm bằng nhựa màu đen, dạng lưỡi trai, không có xốp lót, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Đông P); 01(một) cây dao tự chế, dài khoảng 113cm, cán dao bằng kim loại, dạng ống, dài khoảng 88cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 25cm, có mũi nhọn và có một cạnh sắt bén được hàn vào cán dao (thu giữ của Phù Ty T) và 01 cây kiếm dài khoảng 94cm, cán bằng gỗ dài khoảng 26cm, lưỡi kiếm bằng kim loại, hình cong cánh cung, dài khoảng 68cm, có một cạnh sắc bén (thu giữ của Võ Duy P3).

(Vật chứng được thể hiện tại Quyết định chuyển vật chứng số 31/QĐ-VKSPQ ngày 20/01/2025)

Đối với 01 xe mô tô loại Cub 50, màu xám bạc, biển kiểm soát số 68MA - 033.44 do anh Trần Lương Trí V giao nộp là của bà Lương Thị T2 đứng tên. Bà T2 không có lỗi trong việc giao phương tiện cho các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố phú Q1 đã trao trả cho bà T2 là chủ sở hữu nên không xem xét.

Đối với cây dao của Nguyễn Đông P sử dụng làm hung khí, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành truy tìm, nhưng không thấy nên không xem xét.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, loại Accent, màu trắng, biển kiểm soát 69A-115.41, đã qua sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P trả lại cho chủ sở hữu bà Phan Tú H1 theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 17/8/2024 nên không xem xét.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Đông P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.080.000 đồng (Một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự giá ngạch.

Buộc các bị cáo Phù Ty T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.080.000 đồng (Hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự giá ngạch

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo, các bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn đoực tính kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cơ quan CSĐT;
  • - VKS TP Phú Quốc;
  • - Thi hành án DS TP Phú Quốc;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án;
  • - Phân trại tạm giam KV Phú Quốc;
  • - Bị cáo; người đại diện;
  • - Bị hại; người đại diện;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HSST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 47/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đông Phương và Phù Ty Thành phạm tội cô sý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger