|
TAND HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2025/HSST Ngày 19/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Kiên; Bà La Thị Thành.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Than Uyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông: Tòng Văn T - Kiểm sát viên
Ngày 19/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 47/2022/TLST-HS ngày 28/02/2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025 đối với bị cáo: Họ và tên: VỪ A C; Sinh ngày 21/7/1979, tại T - Lai Châu; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Chức vụ: không; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Vừ A K (không xác định được năm sinh, đã chết) và bà Vàng Thị S, sinh năm 1937; Gia đình bị cáo có 07 anh, em; bị cáo là con thứ bảy; Bị cáo có vợ là Hờ Thị D, sinh năm 1980 và 05 người con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: ngày 25/6/2010, Vừ A C bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/01/2025, đến ngày 25/01/2025 được áp dụng bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay (có mặt).
Người bào chữa: bà Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T6 (có mặt).
Bị hại:
- Ông Sùng A T, sinh năm 1945.Địa chỉ: bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (ông T chết ngày 22/02/2025 theo Trích lục khai tử số 19/2025 ngày 17/3/2025 của UBND xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu).
- Cháu Hà Văn T1, sinh ngày 22/12/2008; Địa chỉ: bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt). Người đại diện hợp pháp cho cháu T1: Anh Hà Văn N1, sinh năm 1999 (anh ruột). Địa chỉ: bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
- Cháu Cầm Văn H, sinh ngày 11/6/2008; Địa chỉ: bản L, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt). Người đại diện hợp pháp cho cháu H: Chị Vàng Thị H1, sinh năm 1982 (mẹ đẻ); Địa chỉ: bản L, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Sùng A T là anh Sùng A C1, sinh năm 1975 (con đẻ); Địa chỉ: bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Hà Văn T2, sinh năm 1975.
Địa chỉ: bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 30/8/2024, Vừ A C đang ăn cơm, uống rượu tại nhà mình bản Sam Sẩu, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu thì có Sùng A T (sinh năm 1945, trú cùng bản) sang nhà Chư chơi. Qua nói chuyện, T nói với C: nếu chiều đi ghi xổ số kiến thiết miền bắc thì cho T đi nhờ xe mô tô để ghi xổ số, sau đó T đi về. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Vừ A C điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave S, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát 25T1 - 04871 đến cổng nhà Sùng A T và chở T ngồi sau đi ra đường Quốc lộ 32 theo hướng huyện T đi huyện T tỉnh Lai Châu. Khi Vừ A C điều khiển xe đến bản Đội 9, xã P, huyện T thì điểm ghi xổ số ở phía bên tay trái theo chiều xe di chuyển của Vừ A C. Lúc này, Vừ A C nhìn thấy phía trước, cách khoảng 50 mét có 01 xe mô tô đang di chuyển trên làn đường bên trái theo hướng ngược lại (xác định được do anh Hà Văn T1, sinh ngày 22/12/2008; cư trú tại bản S, xã P, huyện T điều khiển chở theo anh Cầm Văn H, sinh năm 2008; cư trú tại bản L, xã M, huyện T). Vừ A C cho rằng xe của T1 không kịp di chuyển đến nên C đã không bật tín hiệu xi nhan để sang đường mà điều khiển xe mô tô từ làn đường bên phải sang làn đường bên trái để rẽ vào điểm ghi xổ số. Khi Vừ A C điều khiển xe mô tô sang làn đường bên trái thì xe mô tô do anh Hà Văn T1 điều khiển đâm vào xe do Vừ A C điều khiển. Hậu quả: 02 xe mô tô đổ xuống đường, Vừ A C, anh Hà Văn T1 và anh Cầm Văn H bị thương nhẹ. Ông Sùng A T (người ngồi sau xe do C điều khiển) bị thương nặng được mọi người đưa đi Trung tâm y tế huyện T cấp cứu.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: địa điểm xảy ra tai nạn tại Km 351+200 mét, Quốc lộ C thuộc địa phận bản Đội 9, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu. Đoạn đường thẳng, đường hai chiều, mặt đường nhựa áp phan, có cống thoát nước chìm, mặt đường rộng trung bình 5,37 mét, cả hai bên đường tầm nhìn không bị che khuất. Lấy mép đường bên trái theo hướng xe mô tô do Vừ A C di chuyển làm chuẩn. Tại hiện trường để lại 03 vết cà, vết trượt của phương tiện giao thông xuống mặt đường. Các vết cà, vết trượt này đều nằm bên phần đường bên trái theo chiều di chuyển của xe mô tô do Vừ A C điều khiển. Hiện trường không phát hiện có dấu vết phanh của phương tiện giao thông. Xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave S, màu sơn đen, biển kiểm soát 25T1-04871 do Vừ A C điều khiển đổ trên lề đường bên trái, phần đầu của xe nằm trên ống sắt vắt qua miệng cống thoát nước, phần đuôi xe hướng ra đường Q, trục sau cách mép đường 0,51 mét, trục trước cách mép đường 1,78 mét. Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE SD, màu sơn đen, bạc (không gắn biển kiểm soát) do anh Hà Văn T1 điều khiển đổ nghiêng bên trái theo hướng xe mô tô do Vừ A C di chuyển, phần đầu hướng đi huyện T, phần đuôi hướng đi huyện T, trục trước trùng với mép đường chuẩn, trục sau cách mép đường 0,70 mét. Lấy vết cà đầu tiên của phương tiện xuống mặt đường ký hiệu số 01 có kích thước 0,54 mét x 0,15 mét, đầu vết cách mép đường bên trái là 0,37 mét, cuối vết cách mép đường bên trái là 0,40 mét. Kết thúc việc khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ 02 xe mô tô do Vừ A C và Hà Văn T1 điều khiển.
Ngay sau khi xảy ra vụ tại nạn giao thông Đội CSGT đường bộ số C3 - Phòng PC 08 Công an tỉnh L đo nồng độ cồn có trong hơi thở của Vừ A C xác định là 0.034 miligam/1 lít khí thở, nồng độ cồn có trong hơi thở của Hà Văn T1 xác định là 0.092 miligam/1 lít khí thở. Tét nhanh ma tuý đối với Vừ A C cho kết quả dương tính với ma tuý, nhóm OPI. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành trích xuất hệ thống camere an ninh của xã P, huyện T để giám định tốc độ.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 164 ngày 07/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T6 đối với Sùng A T. Kết luận:
- Tỷ lệ tổn thương của từng thương tích:
- + Sẹo ngay đuôi cung lông mày phải, kích thước dài 3,5 cm; rộng 0,2 cm là 3% (ba phần trăm);
- + Vết biến đổi dối loạn sắc tố da vùng khuỷu tay phải, kích thước dài 12,3 cm, rộng 3 cm là 1% (một phần trăm);
- + Sẹo mặt ngoài đùi phải, kích thước: dài 29 cm; rộng 0,6 cm là 3% (ba phần trăm);
- + Gãy cung sau xương sườn 5 bên trái là 2% (hai phần trăm);
- + Gãy cung sau xương sườn 6 bên trái là 2% (hai phần trăm);
- + Gãy 1/3 trên xương đùi phải đã kết hợp xương là 23% (hai mươi ba phần trăm);
- + Gãy đầu trên xương quay phải là 8% (tám phần trăm);
- + Lớp dịch khoang dưới màng cứng vùng thái dương trán trái chỗ dày nhất 13 mm, lớp dịch khoang dưới màng cứng vùng trán phải chỗ dày nhất 5 mm là 18% (mười tám phần trăm);
- + Vỡ lún phức tạp xương hộp sọ vùng thái dương trán phải trên diện 65 mm x 75 mm là 23% (hai mươi ba phần trăm);
- + Vỡ thành ngoài hố mắt phải là 6% (sáu phần trăm);
- + Vỡ thành sau xoang hàm phải là 8% (tám phần trăm).
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Sùng A T tại thời điểm giám định là 65% (sáu mươi năm phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định số 1152/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: tốc độ trung bình của xe mô tô (không gắn biển số) xuất hiện từ thời điểm 15:11:11 (thời gian hiển thị trên video) trước khi xảy ra tai nạn (khi di chuyển từ vị trí bánh sau xe mô tô xuất hiện tại mép dưới khung hình video đến vị trí bánh sau xe mô tô chạm vạch kẻ 4.4 trên mặt đường) trong tập tin vi deo gửi giám định là từ 62,46 km/h đến 64,22 km/h.
Qua công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện giao thông, kết hợp với lời khai của Vừ A C, Sùng A T, Hà Văn T1 và Cầm Văn H xác định: điểm va chạm giữa xe mô tô do Vừ A C điều khiển với xe mô tô do anh Hà Văn T1 điều khiển tại đầu vết số 01 (là vết cà đầu tiên của phương tiện giao thông xuống mặt đường). Điểm đâm va này cách mép đường bên trái theo hướng xe mô tô do Vừ A C di chuyển là 0,37 mét. Vừ A C đã điều khiển xe mô tô chạy lấn sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều 2,315 mét, đâm vào xe mô tô đi ngược chiều do anh Hà Văn T1 điều khiển khiến cho ông Sùng A T (người ngồi sau xe do Vừ A C điều khiển) bị tổn hại 65% sức khỏe. Vừ A C điều khiển xe mô tô trong hơi thở có nồng độ cồn và dương tính với chất ma túy đã vi phạm quy định về quy tắc giao thông đường bộ tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ năm 2008:
Về vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA (không gắn biển kiểm soát), số loại WAVE SD, số khung: RLHJC5213CY014365; số máy: JC52E4017892; 01 đăng ký xe mô tô gắn biển kiểm soát 25T1- 012.40 mang tên Lò Văn Đ. 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 25T1- 048.71; 01 đăng ký xe mô tô gắn biển kiểm soát 25T1- 048.71 mang tên Vừ A T3; 01 Giấy phép lái xe mang tên Vừ A T4, Các vật chứng hiện đang được lưu giữ bảo quản theo quy định.
Cáo trạng số 15/CT-VKSTU ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Vừ A C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vừ A C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai các bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vừ A C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 36/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo Vừ A C mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm cải tạo không giam giữ, quy đổi, trừ thời gian bị tạm giữ cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập và miễn án phí HSST cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Bị cáo Vừ A C là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, khả năng nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Sau khi gây tai nạn làm tổn hại sức khoẻ cho bị hại Sùng A T đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị hại cùng người đại diện cho các bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 36, Điều 54, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập và miễn phán phí cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Sùng A T, anh Sùng A C1 trình bày: Sau khi gây tai nạn cho bố anh, bị cáo Vừ A C đã bồi thường số tiền 27.500.000 đồng nên gia đình không yêu cầu bồi thường thêm. Bố anh đã chết vào ngày 22/02/2025 nhưng nguyên nhân chết không phải do hậu quả của vụ tai nạn giao thông do bị cáo C gây ra, mà là do ông T bị chết do ung thư phổi. Về hình phạt đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Các bị hại Hà Văn T1, Cầm Văn H và những người đại diện hợp pháp của cháu T1, cháu H đều khai: Khi va chạm với xe mô tô của bị cáo Vừ A C, cháu T1, cháu Huỳnh C2 bị xây xước nhẹ, cả hai gia đình đều không yêu cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và không yêu cầu bị cáo C bồi thường. Về hình phạt đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn T2 trình bày: Con trai Hà Văn T1 tự ý lấy xe mô tô của ông, ông không hề biết. Chiếc xe mô tô của ông do con trai Hà Văn T1 điều khiển khi va chạm với xe của bị cáo Vừ A C đang bị thu giữ, nay đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe nói trên cho gia đình. Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người bào chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Người bào chữa thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 73/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Hồi 14 giờ ngày 30/8/2024, Vừ A C điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 25T1- 048.71 chở theo ông Sùng A T (sinh năm 1945; cư trú tại bản S, xã P, huyện T) trong tình trạng hơi thở có nồng độ cồn 0.034 miligam/1 lít khí thở và có sử dụng chất ma túy. Khi Vừ A C điều khiển xe đi đến Km 351+200 m, Quốc lộ C thuộc địa phận bản Đội 9, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu do không nhường đường cho xe đi ngược chiều, xe mô tô do Vừ A C điều khiển đã chạy lấn sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều 2,315 m đâm vào xe mô tô đi ngược chiều do anh Hà Văn T1 (sinh ngày 22/12/2008; cư trú tại bản S, xã P, huyện T điều khiển chở theo anh Cầm Văn H (sinh năm 2008; cư trú tại bản L, xã M, huyện T). Hậu quả: ông Sùng A T (người ngồi sau xe do Vừ A C điều khiển) bị tổn hại 65% sức khỏe. Hành vi bị cáo Vừ A C thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260/Bộ luật hình sự.
[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo Vừ A C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ khi trong khí thở có nồng độ cồn là vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ nhưng vẫn thực hiện.
[4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Bị cáo Vừ A C không có mục đích gây tai nạn giao thông, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái vô ý do chủ quan vì cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra.
[5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vừ A C được sinh ra trong gia đình lao động, mặc dù được cấp giấy phép lái xe mô tô và đủ điều kiện điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ, là nguồn nguy hiểm cao độ, bị cáo buộc phải nhận thức được việc tuân thủ các nguyên tắc điều khiển phương tiện xe cơ giới cũng như phải nhận thức được các quy định của Luật giao thông đường bộ, tuy nhiên bị cáo đã không tuân thủ, điều này thể hiện thái độ chủ quan, thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt. Bị cáo có nhân thân xấu, đã tựng bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý vào năm 2010, mặc dù đã được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi điều khiển phương tiện giao thông khi trong khí thở có nồng độ cồn, dương tính với chất ma tuý gây tai nạn giao thông.
Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi gây tai nạn đã kịp thời phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại, các bị hại cùng đại diện hợp pháp có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nguyên nhân gây tai nạn làm tổn hại sức khoẻ cho bị hại Sùng A T có một phần lỗi của bị hại Hà Văn T1 lúc điều khiển xe mô tô khi chưa đủ tuổi được phép điều khiển xe mô tô, điều khiển xe với tốc độ trên 60 km/h và trong khí thở có nồng độ cồn vượt quá quy định, dẫn đến va chạm với xe mô tô của bị cáo C. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa. Bị cáo Vừ A C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52/Bộ luật hình sự. Bị cáo Vừ A C có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52/Bộ luật hình sự, vì vậy cần áp dụng Điều 54/Bộ luật hình sự để cho bị cáo hưởng mức dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, bên cạnh đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp lỗi vô ý do chủ quan. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Xét thấy không cần cách ly bị cáo mà tạo điều kiện để bị cáo có điều kiện cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đã đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tai nạn khiến bị hại Sùng A T tổn hại 65% sức khoẻ, bị cáo Vừ A C đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường cho ông T số tiền 27.500.000 đồng. Các bị hại Hà Văn T1, Cầm Văn H cùng những người đại diện không yêu cầu bị cáo C bồi thường. Xét thấy sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại Sùng A T là tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội nên HĐXX không xem xét.
[7]. Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo có nghề nghiệp là trồng trọt, điều kiện kinh tế khó khăn nên không khấu trừ thu nhập của bị cáo theo quy định tại Điều 36/Bộ luật hình sự.
[8]. Về vật chứng, tài sản trong vụ án: Đối với chiếc xe mô tô cùng Giấy đăng ký xe gắn biển kiểm soát 25 T1 048.71 bị cáo sử dụng gây tai nạn, tuy nhiên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp vô ý, Giấy phép lái xe mang tên bị cáo Vừ A T4 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. 01 xe mô tô do cháu Hà Văn T1 điều khiển cùng 01 đăng ký xe mang tên Lò Văn Đ cùng 01 biển số xe mô tô 25T1 012.40 mang tên Lò Văn Đ là tài sản hợp pháp của ông Hà Văn T2 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho ông T2.
[9]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên toà có đề nghị được miễn án phí nên sẽ được miễn án phí HSST.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260, Điều 36, Điều 54, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vừ A C 03 (ba) năm Cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ, tương đương 18 (mười tám) ngày Cải tạo không giam giữ. Nay buộc bị cáo phải chấp hành tiếp 02 (hai) năm 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được quyết định thi hành án. Người bị kết án phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 99, 100, 101 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về vật chứng, tài sản: Trả lại cho bị cáo Vừ A C 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại WAVE S đã qua sử dụng mang BKS 25 T1- 048.71, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô gắn BKS 25 T1-048.71 mang tên Vừ A T5 và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Vừ A T4; Trả lại cho ông Hà Văn T2 01 xe mô nhãn hiệu HONDA loại WAVE SD đã qua sử dụng, 01 Biển số xe mô tô 25 T1 - 012.40 đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô gắn BKS 25 T1 - 012.40 mang tên Lò Văn Đ.
- Về án phí: Bị cáo Vừ A C được miễn án phí HSST.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại, người đại diện hợp pháp cho các bị hại, có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đối với các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Vừ A C cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Không khấu trừ thu nhập và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Các vật chứng, tài sản nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/3/2025 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đoàn Trung Phước |
Bản án số 47/2025/HSST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 47/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vàng A C vi phạm quy định về nồng độ cồn, gây thiệt hại 65% sức khỏe cho bị hại
