Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HSST

Ngày : 04/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Anh Ngọc;

2/ Bà Nguyễn Thị Thanh Trang;

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Phan Minh Vương là Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ TRỌNG Q; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: A H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: D V, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Trọng V, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1970; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/4/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (bản án số 39/2017/HSST), đến ngày 26/4/2019 chấp hành xong án tù, đã đóng án phí, đã xóa án tích; Ngày 09/11/2020 bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 (mười tám) tháng, chấp hành xong ngày 16/02/2022; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2024;

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Trần Thị Ngọc B, sinh năm 1995, địa chỉ: P nhà số D V, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

(vắng mặt tại phiên toà)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 8/2024 Lê Trọng Q dọn đến sống cùng bạn gái là Trần Thị Ngọc B ở phòng trọ số 011 nhà số D V, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 07/10/2024, Q liên lạc qua điện thoại với một người tên T (không rõ lai lịch, không nhớ số điện thoại của T) để mua 1.000.000 (một triệu) đồng ma túy đá. T hẹn Q đến khu vực đường Q (không rõ địa điểm cụ thể) để nhận ma túy, khi mua ma túy Q trả tiền trực tiếp cho T. Sau khi mua ma túy Q đem về cất giấu ở phòng trọ số 011 nhà số D V để sử dụng cho bản thân, số ma túy còn lại chưa sử dụng Quy bỏ vào gói nylon màu vàng để tại gác lửng của phòng trọ.

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/10/2024, Công an phường T, quận T tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ số 011 nhà số D V, phường T, quận T nơi Lê Trọng Q đang ở phát hiện thu giữ một (01) gói màu vàng bên trong chứa tinh thể nên tiến hành niêm phong, thu giữ. Tại thời điểm kiểm tra, Trần Thị Ngọc B về đến phòng trọ số 011 nhà số D V nên cơ quan Công an đưa B vào phòng trọ chứng kiến Công an kiểm tra đối với Q. Qua kiểm tra công an thu giữ của Q gồm một (01) bật lửa màu đỏ; hai mươi (20) gói nylon chưa sử dụng, số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng tiền Việt Nam.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Lê Trọng Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, qua làm việc Lê Trọng Q và Trần Thị Ngọc B đều khai nhận số ma túy trên là của Q, B không sử dụng ma túy chung với Q và B không biết Q có sử dụng ma túy tại phòng trọ số 011.

Bản kết luận giám định số 12079/KL-KTHS ngày 19/10/2024 của Phòng K Công an Thành phố H xác định một (01) gói nylon bên trong chứa tinh thể thu giữ của Lê Trọng Q là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,1719 gram loại Methamphetamine (bút lục số 35).

* Vật chứng thu giữ:

  • Một (01) gói niêm phong bên trong chứa ma túy sau giám định số 3719/24, là gói ma tuý thu giữ của Q;
  • Một (01) điện thoại di động Iphone màu tím, không rõ số IMEI do bị khóa Icloud là điện thoại của Q sử dụng để đặt mua ma tuý;
  • Một (01) điện thoại di động Samsung S20 FE màu xanh, số IMEI: 353173657840102, là điện thoại thu giữ của Q;
  • Một (01) điện thoại di động N màu đen, số IMEI1:354495099589735, số IMEI2:354500094589737, là điện thoại thu giữ của Q;
  • Số tiền Việt Nam 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng;
  • Hai mươi (20) gói nylon chưa sử dụng;
  • Một (01) bật lửa màu đỏ;

Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 296/PNK ngày 06/12/2024 của Công an quận T (bút lục số 137).

2

Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Trọng Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Trọng Q theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù, đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/10/2024 tại phòng trọ số 011 nhà số D V, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Trọng Q đã có hành vi tàng trữ một (01) gói nylon có khối lượng 2,1719 gram ma tuý ở thể rắn loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Ngoài ra còn làm gia tăng các tệ nạn xã hội và là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng và sự phát triển

3

lành mạnh của giống nòi. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có nhân thân xấu, đã một lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng bị Nhà nước nghiêm cấm và bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo do đó cần phải có mức án tương xứng mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với Trần Thị Ngọc B không biết việc Q mua ma túy và sử dụng ma tuý, không hùn tiền mua ma tuý với Q do đó chưa đủ cơ sở để xử lý.

Đối với người tên T bán ma tuý cho Q (chưa rõ lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đang truy xét khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với một (01) gói niêm phong bên trong chứa ma túy sau giám định số 3719/24 là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ;

Đối với một (01) điện thoại di động Iphone màu tím, không rõ số IMEI do bị khóa Icloud thu giữ của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đây là điện thoại bị cáo Q sử dụng để đặt mua ma tuý nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;

Đối với một (01) điện thoại di động Samsung S20 FE màu xanh có số IMEI: 353173657840102; một (01) điện thoại di động N màu đen có số IMEI1: 354495099589735, số IMEI2: 354500094589737 và số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng thu giữ của bị cáo Q. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo;

Đối với (hai mươi) 20 gói nylon chưa sử dụng; một (01) bật lửa màu đỏ là vật chứng của vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;

(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 296/PNK ngày 06/12/2024 của Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh)

[5] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khó có khả năng thi hành nên miễn cho bị cáo;

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

4

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Trọng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

* Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt:

Lê Trọng Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/10/2024;

* Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tịch thu tiêu huỷ: một (01) gói niêm phong bên trong chứa ma túy sau giám định số 3719/24; hai mươi (20) gói nylon chưa sử dụng và một (01) bật lửa màu đỏ;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước một (01) điện thoại di động Iphone màu tím, không rõ số IMEI do bị khóa I;

Trả cho bị cáo một (01) điện thoại di động Samsung S20 FE màu xanh có số IMEI: 353173657840102 và một (01) điện thoại di động N màu đen có số IMEI 1: 354495099589735, số IMEI 2: 354500094589737 và số tiền Việt Nam 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng;

(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 296/PNK ngày 06/12/2024 của Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh)

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết/tống đạt bản án hợp lệ theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PC27 CATP.HCM;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Huỳnh Hoàng Phương

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HSST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 47/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Trọng Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger