Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47 /2025/HS - ST

Ngày: 25/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Việt Chiến
    2. Ông Lê Minh Hiệp
  • Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 02/TLST - HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXX - HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐ –HSST ngày 28/02/2025 đối với bị cáo:

Đỗ Thế M - Sinh năm: 1997. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không. HKTT: khu V, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Không rõ (theo lý lịch bị cáo). Bị cáo khai tại phiên tòa: con ông Đoàn Văn L. Con bà: Đỗ Thu L1. Gia đình có bị cáo là con duy nhất. Vợ: Nguyễn Phương L2, sinh năm 1996 (đã ly hôn năm 2022). Con: có 01 con, sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Bản án số 159/2024/HS - ST ngày 21/8/2024, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 07 năm tù về tội Tham ô tài sản, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 12 năm tù, thời hạn tính từ ngày 13/11/2023. (Phạm tội ngày 20/12/2018).

Bị cáo đang chấp hành án tại trại giam T2 - Bộ C theo bản án số 159/2024/HS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa .

Người bị hại: Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1993; HKTT: xã H, huyện T, Hà Nội. Nơi ở hiện tại: số nhà D, ngõ B, đường L, phường T, quận N, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty TNHH Bchi L3 ( Công ty TNHH B). Trụ sở chính: Tòa nhà Dchi L, 149 – 151 N, phường A, quận P, Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: anh Nguyễn Tú A1 và anh Nguyễn Thanh T – cán bộ công ty. Có mặt tại phiên tòa.
  2. ông Nguyễn Văn Tuấn S năm 1959. Nơi ở hiện tại: số D ngõ B L, phường T, quận N, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 8/2018, anh Nguyễn Ngọc A (SN: 1993; HKTT: H, T, Hà Nội) có nhu cầu mua bảo hiểm của công ty TNHH B1 nên đã liên hệ qua mạng xã hội với Đỗ Thế M (SN: 1997; HKTT: khu V, xã P, huyện Đ, Phú Thọ) để tư vấn. Do thời điểm này M chỉ là cộng tác viên cho công ty D1 chi nhánh T3, Hà Nội nên không tiến hành ký hợp đồng bảo hiểm được với anh Ngọc A mà M tự lấy mã code nhân viên của anh Nguyễn Công H (SN: 1994; HKTT: Thôn D, S, H, Hà Nội) để soạn thảo hợp đồng. Ngày 19/8/2018, anh Nguyễn Ngọc A ký hợp đồng bảo hiểm số 2681529 với công ty D1 với số tiền bảo hiểm là 16.270.000 đồng/năm, tư vấn tài chính trên hợp đồng là Nguyễn Công H (M không được Công ty phân công chăm sóc và thu phí hợp đồng) nhưng M là người trực tiếp thu tiền từ ông Nguyễn Văn T1 (SN: 1959; chỗ ở: số D ngõ B, L, T, N, Hà Nội - là bố đẻ của anh Ngọc A) số tiền 16.270.000 đồng là phí năm 2018 (năm thứ nhất). M tự lấy phiếu thu của công ty D1 và tự ký tên người thu tiền là Trần Thành Đ, Số tiền này M nộp về công ty.

Từ ngày 20/12/2018 đến ngày 02/10/2020, M là đại lý của công ty B (địa chỉ B, T, T, Hà Nội), nhiệm vụ của M là tư vấn, ký kết hợp đồng bảo hiểm và đại diện công ty thu tiền của khách hàng theo Hợp đồng đã ký và nộp về công ty đầy đủ. Ngày 26/8/2019, M đến gia đình anh Ngọc A thu phí bảo hiểm năm thứ 2 với số tiền 16.262.000 đồng (ông T1 nộp qua hình thức chuyển khoản vào số tài khoản của M mở tại Ngân hàng T4, M có đưa phiếu thu có dấu treo của Công ty (liên 2) và ký tên Trần Thị Kim N. Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên M nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền từ hợp đồng bảo hiểm của anh Nguyễn Ngọc A. Ngày 19/11/2019, M tự làm phiếu yêu cầu thay đổi chi tiết hợp đồng bảo hiểm để giảm mức đóng theo năm là 16.262.000 đồng/năm thành đóng phí bảo hiểm theo quý là 4.066.000 đồng/quý và tự làm phiếu khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm. Sau đó, M nộp về công ty B số tiền 4.066.000 đồng và chiếm đoạt số tiền 12.196.000 đồng của công ty.

Từ ngày 3/10/2020 đến năm 2022, Đỗ Thế M đã bị buộc thôi việc tại Công ty TNHH B nhưng vẫn đưa ra thông tin gian dối là đại lý bảo hiểm của công ty đến thu phí bảo hiểm của khách hàng thường niên để chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Ngọc A số tiền là 46.330.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng), cụ thể như sau:

  • Lần thứ nhất: ngày 21/9/2020, ông Nguyễn Văn T1 chuyển khoản cho M từ số tài khoản 1401207061116 ngân hàng A2 đến số tài khoản 0865848558 ngân hàng T4, chủ tài khoản Đỗ Thế M, số tiền 14.780.000 đồng.
  • Lần 2: ngày 04/9/2021, ông Nguyễn Văn T1 tiếp tục chuyển khoản cho M tiền đóng phí bảo hiểm là 14.650.000 đồng.
  • Lần 3: ngày 12/9/2022, M đến nhà anh Ngọc A thu phí năm 2022 và tư vấn cho anh Ngọc A nâng cấp gói bảo hiểm lên cấp độ bảo hiểm toàn cầu. Anh Ngọc A đã đồng ý và đóng phí thường niên theo hợp đồng cũ và thêm tiền phí năm đầu tiên của gói bảo hiểm mới cho M với tổng số tiền là 16.900.000 đồng. Anh Ngọc A chuyển khoản từ số tài khoản 03501014702630, ngân hàng H1 đến số tài khoản 0865848558, ngân hàng T4, chủ tài khoản Đỗ Thế M, hẹn sẽ gửi hóa đơn thu tiền điện tử của công ty theo địa chỉ email và tin nhắn về số điện thoại cá nhân của anh Ngọc A như đã đăng ký trong hợp đồng. Sau 10 ngày, anh Ngọc A không nhận được bất kỳ thông tin thu tiền phí bảo hiểm nào từ phía công ty cũng như từ nhân viên tư vấn Đỗ Thế M.

Ngày 23/9/2022, M đến nhà anh Ngọc A, nhưng không cung cấp được hóa đơn và giải thích việc chậm trễ do chuyển tiền. M cam đoan và viết giấy xác nhận là nhân viên của công ty hàng năm đến thu phí bảo hiểm nhân thọ cho hợp đồng bảo hiểm của anh Ngọc A từ năm 2018 đến năm 2022 và cam kết chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc đóng phí cho công ty (giấy xác nhận viết tay). M cũng thống nhất với anh Ngọc A là sáng ngày 24/9/2022 cùng lên công ty D2 - chi nhánh T5 (số B Phố T, Quận T, Hà Nội) để kiểm tra thông tin về tình trạng đóng phí hợp đồng bảo hiểm số 2681529 của anh Ngọc A. Do M không đến nên anh Ngọc A đã nhờ kiểm tra trên hệ thống dữ liệu của công ty thì biết hợp đồng đã hết hiệu lực từ năm 2019 do chưa đóng phí.

Ngày 18/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 4386/QĐ-CQĐT-ĐTTH, về việc trưng cầu chữ ký, chữ viết trong giấy xác nhận ngày 23/9/2022. Tại Bản kết luận giám định số 7195 ngày 05/12/2024 của V- Bộ C, kết luận: Chữ ký, chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu A (Giấy xác nhận thu phí, tư vấn bảo hiểm của M) so với chữ ký, chữ viết của Đỗ Thế M trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người ký, viết ra.

Đối với anh Nguyễn Công H, tại cơ quan điều tra anh H khai: Khách hàng Nguyễn Ngọc A là do M khai thác, tư vấn, ký hợp đồng, anh H không biết. Do lúc này M chưa phải là đại lý của Công ty nên M tự ý lấy mã Code của H trên máy tính (M và H cùng làm chung văn phòng) in ra cho anh Ngọc A ký, sau khi tiền hoa hồng ký hợp đồng chuyển về tài khoản của H thì H mới biết và đã đưa lại cho M, H không biết việc M tư vấn và ký hợp đồng cụ thể như thế nào. Do Nguyễn Công H không biết việc M chiếm đoạt tiền của anh Ngọc A và Công ty nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Công ty B: Công ty xác định không giao hợp đồng bảo hiểm số 2681529 cho nhân viên Đỗ Thế M. Sau khi khách hàng Nguyễn Ngọc A khiếu nại việc hợp đồng mất hiệu lực, phía Công ty B đã thanh lý hợp đồng hoàn trả số tiền đã thu của anh Ngọc A. Anh Ngọc A đã nhận lại số tiền 28.752.000 đồng từ Công ty.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Thế M khai và thừa nhận, ngày 19/11/2019, Đỗ Thế M là cộng tác viên của công ty TNHH B tuy không được giao tư vấn, thu tiền khách hàng theo hợp đồng bảo hiểm số 2681529 của anh Nguyễn Ngọc A nhưng M vẫn tư vấn, dùng phiếu thu của công ty để thu số tiền 16.262.000 đồng của anh Ngọc A. Sau đó, M làm giả phiếu yêu cầu thay đổi chi tiết hợp đồng bảo hiểm, phiếu khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm để nộp về công ty số tiền 4.066.000 đồng và chiếm đoạt số tiền 12.196.000 đồng của công ty B.

Từ ngày 3/10/2020 đến năm 2022, Đỗ Thế M đã bị buộc thôi việc tại Công ty TNHH B nhưng vẫn đưa ra thông tin gian dối là đại lý bảo hiểm của công ty đến thu phí bảo hiểm của khách hàng thường niên để chiếm đoạt của anh Nguyễn Ngọc A tổng số tiền 46.330.000 đồng (năm 2020 chiếm đoạt số tiền 14.780.000 đồng; năm 2021, chiếm đoạt số tiền 14.650.000 đồng; năm 2022 chiếm đoạt số tiền 16.900.000 đồng). Số tiền chiếm đoạt được của Công ty và anh Ngọc Anh M1 đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Cơ quan điều tra Đỗ Thế M khai hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của M phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu điều tra khác.

Về dân sự: Anh Nguyễn Ngọc A yêu cầu bồi thường số tiền 46.330.000 đồng. Anh Nguyễn Công H, Công ty B không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại Cáo trạng số 02/CT -VKSNTL ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội truy tố bị cáo Đỗ Thế M về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu quan điểm đề nghị áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 175 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52 (đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản), điều 55, điều 56 Bộ Luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đỗ Thế M từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; từ 21tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Bị cáo đang chấp hành Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội nên cần tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 14 năm 6 tháng đến 15 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47, điều 48 Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo bồi thường cho: anh Nguyễn Ngọc A số tiền 46.330.000 đồng, bồi thường cho công ty TNHH B số tiền 12.196.000 đồng.

Về vật chứng: Không.

Bị cáo Đỗ Thế M khai tại phiên tòa như đã khai tại cơ quan điều tra về hành vi do mình thực hiện là phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Thế M khai nhận:

  • + Ngày 19/11/2019, Đỗ Thế M là cộng tác viên của công ty TNHH B tuy không được giao tư vấn, thu tiền khách hàng theo hợp đồng bảo hiểm số 2681529 của anh Nguyễn Ngọc A nhưng M vẫn tư vấn, dùng phiếu thu của công ty để thu số tiền 16.262.000 đồng của anh Ngọc A. Sau đó, M làm giả phiếu yêu cầu thay đổi chi tiết hợp đồng bảo hiểm, phiếu khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm để nộp về công ty số tiền 4.066.000 đồng và chiếm đoạt số tiền 12.196.000 đồng của công ty B. Như vậy Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 175 Bộ luật Hình sự.
  • + Từ ngày 3/10/2020 đến năm 2022, Đỗ Thế M đã bị buộc thôi việc tại Công ty TNHH B nhưng vẫn đưa ra thông tin gian dối là đại lý bảo hiểm của công ty đến thu phí bảo hiểm của khách hàng thường niên để chiếm đoạt của anh Nguyễn Ngọc A tổng số tiền 46.330.000 đồng. Cụ thể: năm 2020 chiếm đoạt số tiền 14.780.000 đồng. Năm 2021, chiếm đoạt số tiền 14.650.000 đồng. Năm 2022 chiếm đoạt số tiền 16.900.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được của Công ty và anh Ngọc A, bị cáo M đã tiêu xài cá nhân hết. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Lời khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc nhằm đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Bị cáo Đỗ Thế M có nhận thức pháp luật nhưng do lòng tham nên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của người khác để sử dụng cá nhân. Nhân thân đang chấp hành án tại trại giam T2 - Bộ C theo Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội về hành vi đã thực hiện sau hành vi bị xét xử trong vụ án này. Do vậy, lần phạm tội này của bị cáo không bị tính là tiền án nhưng cũng đủ thấy thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo. Bị cáo phạm tội hai lần trở lên đối với hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự, chưa bồi thường thiệt hại nên cần xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về việc phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo đang chấp hành bản án số 159/2024/HS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội nên cần tổng hợp hình phạt của hai bản án theo quy định tại khoản 1 điều 56 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đỗ Thế M theo quy định tại Khoản 5 Điều 174, khoản 5 Điều 175 Bộ luật hình sự.

[5] Về dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Ngọc A yêu cầu M bồi thường số tiền 46.330.000 đồng nên cần buộc bị cáo phải bồi thường số tiền này cho người bị hại anh Nguyễn Ngọc A. Công ty TNHH B xác định không giao hợp đồng bảo hiểm số 2681529 cho nhân viên Đỗ Thế M. Sau khi khách hàng Nguyễn Ngọc A khiếu nại việc hợp đồng mất hiệu lực, phía Công ty B đã thanh lý hợp đồng hoàn trả số tiền đã thu của anh Ngọc A và có yêu cầu bị cáo M hoàn trả lại số tiền công ty đã trả cho anh Ngọc A. Do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty TNHH B số tiền 12.196.000 đồng.

[6] Về vật chứng: Không.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Đỗ Thế M phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1điều 52. Điều 38, Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Xử phạt: bị cáo Đỗ Thế M 12 (mười hai) tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm tù. Tổng Hợp hình phạt với 12 (mười hai) năm tù của Bản án số 159/2024/HS- ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2023.

  2. Căn cứ vào Điều 47,48 Bộ luật Hình sự. Các điều 584, 585, 589 Bộ Luật dân sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

    Dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Thế M bồi thường cho:

    • + Anh Nguyễn Ngọc A số tiền 46.330.000 đồng.
    • + Công ty TNHH B số tiền: 12.196.000 đồng

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

    Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.926.300 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, Người bị hại;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm +HN
  • - TAND Tp Hà Nội
  • - Công an quận Nam Từ Liêm
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận NTL
  • - Lưu hồ sơ + văn phòng Toà án.
  • - Công an TP Hà Nội

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Thị Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm về hình sự

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thế Mạnh lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger