TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 47/2025/HS-ST Ngày: 18 - 02 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đậu Thị Mỹ Long;
- Ông Phan Anh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025; đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Nhân B, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1990, tại tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nơi ở hiện nay: Không xác định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 09/12; Họ tên cha: Nguyễn Nhân H, sinh năm: 1962 (đã chết); Họ tên mẹ: Phạm Thị T, sinh năm: 1964 (đã chết); Gia đình có 05 (năm) anh em, bị cáo là con thứ ba; Họ tên vợ: Phạm Thị Thu H1 và có 02 con sinh năm 2013 và 2019;
Tiền án:
- Ngày 06 tháng 6 năm 2013, bị Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 09 tháng 8 năm 2013, Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm y án Bản án sơ thẩm; Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 02 tháng 6 năm 2018.
- Ngày 11 tháng 3 năm 2021, bị Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 09 tháng 6 năm 2021, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm y án Bản án sơ thẩm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 21 tháng 8 năm 2023.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 03 tháng 8 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 12 tháng 8 năm 2024. Đến ngày 03 tháng 01 năm 2025, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo Lĩnh. (Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Anh Trần Thành L, sinh năm: 1992.
Địa chỉ: 1 N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa - Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Khoảng 20 giờ, ngày 31 tháng 7 năm 2024, anh Vương Đình L1 ngụ tại xã H, huyện N, tỉnh Nghệ An điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, không rõ biển số chở Nguyễn Nhân B lưu thông trên đường Đ hướng từ khu vực cây xăng B đến ngã tư A. Khi cả hai lưu thông đến khu vực ngã tư T thì B dùng tay đập 02 (hai) cái vào phía đầu bên trái của xe ô tô nhãn hiệu Subaru Forerter, biển số 60K-198.07 do anh Trần Thành L ngụ tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai điều khiển chở chị Phan Thị Tuyết T1 ngụ tại số A B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (là bạn gái của anh L). Sau đó, khi cả hai xe tiếp tục lưu thông đến đoạn đường Q trước Công ty Đ, tổ A, khu phố B, phường T (nay là phường B), thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì anh L dừng xe lại, xe mô tô của anh L1 và B cũng dừng lại, anh L xuống xe, hai bên xảy ra cãi vã, anh L dùng tay đánh 02 (hai) cái vào mặt Bằng thì được anh L1 và chị T1 can ngăn. Do bực tức nên B đã dùng mũ bảo hiểm đang đội trên đầu đuổi, đánh
nhiều cái vào người anh L làm anh L té ngã xuống đường, B tiếp tục dùng mũ bảo hiểm đánh 02 (hai) cái vào đầu anh L, anh L dùng hai tay để đỡ thì được chị T1 và người dân đi đường (Không rõ họ tên, địa chỉ) can ngăn, anh L1 đẩy anh L đi nơi khác. Sau đó, B nhặt 01 (một) thanh gỗ ván ép, dài khoảng 70cm bên đường, đến vị trí anh L đánh 01 (một) cái trúng vào tay phải của anh L làm gãy thanh gỗ nên anh L bỏ chạy. Do còn bực tức, B cầm đoạn thanh gỗ gãy, dài khoảng 50cm quay lại nơi xe ô tô biển số 60K-198.07 của anh L đang đậu dùng thanh gỗ đập nhiều cái vào nhiều bộ phận trên xe ô tô của anh L gây hư hỏng, gồm: Gương chiếu hậu bên phải, kính cửa trước bên phải, kính chắn gió phía trước, hai gạt mưa trái phải, cản trước xe, gương chiếu hậu bên trái, đèn hậu bên trái, kính cửa sau phải và kính chết sau phải. Thấy vậy, anh L1 đến can ngăn Bằng thì B vứt đoạn thanh gỗ, trong lúc anh L1 đi đến dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter để đi về thì B quay lại nhặt 01 (một) viên gạch bê tông đập nhiều cái vào đèn pha trái, đèn sương mù trái, đèn pha phải, đèn sương mù phải của xe ô tô biển số 60K-198.07 gây hư hỏng rồi Bằng bỏ đi. Sự việc xảy ra, anh L đến công an phường T (nay là phường B) để trình báo. Qua điều tra, xác minh, ngày 03 tháng 8 năm 2024, B được công an phường T (nay là phường B) mời lên làm việc. Công an phường T (nay là phường B) lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra, xử lý.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng hiệu Andes, 01 (một) viên gạch bê tông hình chữ nhật (ngang 8cm, dài 18cm, dầy 4cm) và 01 (một) thanh gỗ (ngang 10cm, dài 52cm, dày 1,5cm) là công cụ Bằng sử dụng để phạm tội.
- - 01 (một) USB ghi lại nội dung sự việc phạm tội lưu hồ sơ vụ án.
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1046/KLTTCT-TTPYĐN ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Trung tâm P đối với anh Trần Thành L kết luận:
“- Sẹo vùng đỉnh trái kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%
- Sẹo đỉnh phải kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%
- Sẹo gốc mũi lệch phải kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 03%
- Gãy xương bàn IV bàn tay phải. Tỷ lệ: 08%
- Không dính tỷ lệ cho chấn thương cẳng tay hai bên đã khỏi hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.”
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thành L, sinh năm 1992 tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận khác:
- Vật gây thương tích: Vật tày hoặc vật tày có cạnh”.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 256/KL-HĐ ĐGTS ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) xe ô tô, biển số 60K-198.07 bị hư hỏng một số bộ phận trên xe có tổng giá trị thiệt hại tài sản là 144.809.400đ (một trăm bốn mươi bốn triệu tám trăm lẻ chín nghìn bốn trăm đồng)”.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Thành L yêu cầu Nguyễn Nhân B bồi thường số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng). Hiện bị cáo chưa bồi thường cho anh L.
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKSBH ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Nhân B về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, g khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Nhân B mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù đối với tội “Cố ý gây thương tích” và mức án từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, trừ đi thời gian giam giữ theo quy định;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
3. Lời nói sau cùng:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố đã cung cấp đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, biên bản lấy lời khai người làm chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 20 giờ, ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại đoạn đường Q trước Công ty Đ Nguyễn thuộc số 159/29E, tổ A, khu phố B, phường T (nay là phường B), thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Nhân B đã có hành vi dùng 01 (một) nón bảo hiểm và 01 (một) thanh gỗ ván ép dài khoảng 70 cm đánh nhiều cái vào người, đầu và tay phải của anh Trần Thành L gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13% (mười ba phần trăm). Sau đó, B tiếp tục dùng thanh gỗ ván ép trên và 01 (một) viên gạch bê tông đập nhiều cái vào nhiều bộ phận trên xe ô tô biển số 60K-198.07 của anh L làm hư hỏng một số bộ phận trên xe có
tổng giá trị thiệt hại tài sản là 144.809.400đ (một trăm bốn mươi bốn triệu tám trăm lẻ chín nghìn bốn trăm đồng) thì B bị bắt giữ, xử lý.
- Về tội danh:
Từ các căn cứ trên, xác định bị cáo Nguyễn Nhân B phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số: 59/CT-VKSBH ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về các tội “Cố ý gây thương tích” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác, đồng thời đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có nhiều tiền án và nhân thân không tốt nhưng không biết tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi gây tổn hại sức khỏe và tài sản của người khác với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự xem thường pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về các vấn đề khác:
Đối với vụ việc Nguyễn Nhân B bị anh Trần Thành L dùng tay đánh nhưng thương tích không đáng kể nên Bằng không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự để xử lý, do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thụ lý giải quyết là phù hợp.
Đối với Vương Đình L1 tuy có hành vi ôm giữ anh L nhưng mục đích của L1 là để can ngăn B đánh anh L, B và L1 không tham gia bàn bạc thực hiện hành vi đánh nhau và cố ý làm hư hỏng tài sản, quá trình B đánh anh L và đập phá tài sản của anh L, L1 can ngăn và không giúp sức cho B thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý L1 là phù hợp.
Đối với hành vi đánh nhau và đập phá tài sản của Nguyễn Nhân B chưa gây đến mức ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương, chưa đủ căn cứ để xử lý về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Về vật chứng:
- - 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng hiệu Andes, 01 (một) viên gạch bê tông hình chữ nhật (ngang 8cm, dài 18cm, dầy 4cm) và 01 (một) thanh gỗ (ngang 10cm, dài 52cm, dày 1,5cm) là công cụ Bằng sử dụng để phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy
- - 01 (một) USB ghi lại nội dung sự việc phạm tội lưu hồ sơ vụ án.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Nhân B đồng ý bồi thường theo yêu của anh Trần Thành L với số tiền 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng).
[6] Về án phí:
Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa:
Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt là phù hợp với quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối với phần trình bày của bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, g khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhân B phạm các tội: “Cố ý gây thương tích và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhân B mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhân B mức án 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội buộc bị cáo Nguyễn Nhân B phải chấp hành mức án 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, trừ đi thời gian tạm giam, tạm giữ bị cáo từ ngày 03 tháng 8 năm 2024 đến ngày 02 tháng 01 năm 2025.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng hiệu Andes, 01 (một) viên gạch bê tông hình chữ nhật (ngang 8cm, dài 18cm, dầy 4cm) và 01 (một) thanh gỗ (ngang 10cm, dài 52cm, dày 1,5cm) (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 02 năm 2025).
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Nhân B phải bồi thường cho bị hại anh Trần Thành L số tiền 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Nhân B phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và các điều 7, 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Bảo |
Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích và cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 47/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích và Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 20 giờ, ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại đoạn đường Q trước Công ty Đ Nguyễn thuộc số 159/29E, tổ A, khu phố B, phường T (nay là phường B), thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Nhân B đã có hành vi dùng 01 (một) nón bảo hiểm và 01 (một) thanh gỗ ván ép dài khoảng 70 cm đánh nhiều cái vào người, đầu và tay phải của anh Trần Thành L gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13% (mười ba phần trăm). Sau đó, B tiếp tục dùng thanh gỗ ván ép trên và 01 (một) viên gạch bê tông đập nhiều cái vào nhiều bộ phận trên xe ô tô biển số 60K-198.07 của anh L làm hư hỏng một số bộ phận trên xe có tổng giá trị thiệt hại tài sản là 144.809.400đ (một trăm bốn mươi bốn triệu tám trăm lẻ chín nghìn bốn trăm đồng) thì B bị bắt giữ, xử lý.
