Hệ thống pháp luật

-TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẬP THẠCH

TỈNH VĨNH PHÚC

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 47/2025/HS-ST

Ngày 19 - 6 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành và bà Trần Thị Kim Khuyên.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Hà Đức V, sinh ngày 26/8/1992 (tên gọi khác: Không); nơi sinh và cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Đức N, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1975; vợ: Khổng Thị T, sinh năm 1996; con: Có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu L, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Cao K, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  3. Anh Phạm Văn B, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2023 đến tháng 10/2024, Hà Đức V, đã cho 03 người vay tiền với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương 109,5%/năm. Hà Đức V đều cho những người trên vay bằng tiền mặt và chuyển khoản, người vay trả lãi đều bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng. Hà Đức V sử dụng tài khoản ngân hàng số [...] của Ngân hàng TMCP C1 (V1) để nhận tiền lãi, cụ thể như sau:

1. Trong thời gian từ ngày 18/01/2024 đến ngày 24/6/2024, V đã cho anh Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1986 ở khu L, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ vay tiền 11 lần với lãi suất 3.000 đồng/1triệu/1 ngày, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 18/01/2024, V cho anh Q vay 50.000.000 đồng tiền mặt, khi đó V và Q thống nhất không lập văn bản giấy tờ gì với nhau.
  • Trong các ngày 18/02/2024; 21/3/2024 và 19/4/2024 anh Q chuyển khoản trả cho V tổng số tiền lãi là 13.800.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 2.520.547 đồng, số tiền thu lời bất chính là 11.279.453 đồng. Ngày 19/4/2024 anh Q đã trả Vấn 50.000.000 đồng tiền gốc.
  • - Lần 2: Ngày 19/01/2024, V chuyển khoản vào số tài khoản 0550108572008 tại ngân hàng M của Q cho Q vay 100.000.000 đồng.
  • Đến ngày 26/01/2024, anh Q trả cho V tiền gốc là 100.000.000 đồng và 2.100.000 đồng tiền lãi. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 383.561 đồng, số tiền thu lời bất chính là 1.716.439 đồng.
  • - Lần 3: Ngày 06/02/2024, V chuyển khoản cho anh Q vay 200.000.000 đồng. Trong các ngày 05/3/2024; 09/4/2024 và 19/04/2024 anh Q chuyển khoản trả cho V số tiền lãi 40.750.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 7.442.922 đồng, số tiền thu lời bất chính là 32.557.078 đồng. Ngày 19/04/2024, Q trả cho V tiền gốc 200.000.000 đồng.
  • - Lần 4: Ngày 12/3/2024, V chuyển khoản cho anh Q vay 200.000.000 đồng. Ngày 15/4/2024 và 19/4/2024 anh Q chuyển khoản trả cho V số tiền lãi 22.750.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 4.155.251 đồng, số tiền thu lời bất chính là 18.594.749 đồng. Đến ngày 19/4/2024, anh Q gặp và trả tiền mặt cho V số tiền gốc 200.000.000 đồng và số tiền lãi là 4.750.000 đồng.
  • - Lần 5: Ngày 03/5/2024, V chuyển khoản cho anh Q vay 50.000.000 đồng. Ngày 05/6/2024 và 07/6/2024 anh Q chuyển khoản trả số tiền lãi 4.650.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 849.315 đồng, số tiền thu lời bất chính là 3.800.685 đồng. Ngày 07/6/2024 anh Q chuyển khoản trả cho V số tiền gốc 50.000.000 đồng.
  • - Lần 6: Ngày 08/5/2024, V chuyển khoản cho anh Q vay 50.000.000 đồng. Ngày 07/6/2024, anh Q chuyển khoản số tiền lãi 4.500.000 đồng và chuyển trả số tiền gốc 50.000.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 821.917 đồng, số tiền thu lời bất chính là 3.678.083 đồng.
  • - Lần 7: Ngày 12/5/2024, V chuyển khoản cho anh Q vay 20.000.000 đồng. Ngày 16/6/2024; 24/7/2024 và 27/8/2024 anh Q chuyển khoản trả cho V số tiền lãi 6.300.000 đồng và đã trả tiền gốc 20.000.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 1.150.684 đồng, số tiền thu lời bất chính là 5.149.316 đồng.
  • - Lần 8: Ngày 14/5/2024, V chuyển khoản cho anh Q vay 30.000.000 đồng. Trong các ngày 16/6/2024; 24/7/2024 và 20/8/2024 anh Q chuyển khoản trả cho V số tiền gốc 30.000.000 đồng và 5.400.000 đồng tiền lãi. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 986.301 đồng, số tiền thu lời bất chính là 4.413.699 đồng.
  • - Lần 9: Ngày 22/5/2024, V chuyển khoản cho anh Q vay 100.000.000 đồng. Trong các ngày 23/6/2024; 03/7/2024 và 22/7/2024 anh Q chuyển khoản trả cho V 100.000.000 đồng tiền gốc và số tiền lãi là 18.000.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 3.287.671 đồng, số tiền thu lời bất chính là 14.712.329 đồng.
  • - Lần 10: Ngày 17/6/2024, V chuyển khoản cho anh Q vay 100.000.000 đồng. Ngày 31/7/2024, anh Q chuyển khoản trả số tiền lãi 9.000.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 1.643.835 đồng, số tiền thu lời bất chính là 7.356.165 đồng. Anh Q đã trả 100.000.000 đồng tiền gốc cho V.
  • - Lần 11: Ngày 24/6/2024, V chuyển khoản cho anh Q vay 100.000.000 đồng. Trong các ngày 31/7/2024; 01/9/2024 và 07/9/2024 anh Q chuyển khoản trả tiền lãi cho V là 27.000.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 4.931.506 đồng, số tiền thu lời bất chính là 22.068.494 đồng. Sau đó anh Q đã trả 100.000.000 đồng tiền gốc cho V.

Như vậy, từ ngày 18/01/2024 đến ngày 28/10/2024, V đã 11 lần cho anh Nguyễn Ngọc Q vay tổng số tiền 1.000.000.000 đồng; anh Q đã trả đủ tiền gốc cho V, tính đến ngày 28/10/2024, V đã thu được tổng số tiền lãi 154.250.000 đồng. Trong đó tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm là 28.173.516 đồng, số tiền thu lời bất chính là 126.076.484 đồng.

2. Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2023 đến ngày 13/10/2024, V đã cho anh Nguyễn Cao K, sinh năm 1990 ở thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc vay tiền 04 lần với lãi suất là 3.000 đồng/1triệu/1ngày, cụ thể:

  • - Lần 1: Đầu tháng 11/2023, V cho anh K vay số tiền 50.000.000 đồng. Trong các ngày 08/12/2023; 09/01/2024 và 27/01/2024 anh K dùng số tài khoản 101328329999 chuyển khoản trả cho V số tiền lãi là 11.500.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 2.100.456 đồng, số tiền thu lời bất chính là 9.399.544 đồng. Đến ngày 27/01/2024, anh K chuyển khoản trả Vấn 50.000.000 đồng tiền gốc.
  • - Lần 2: Ngày 12/03/2024, V chuyển khoản cho anh K vay 50.000.000 đồng. Trong các ngày 11/4/2024; 12/6/2024; 11/7/2024; 12/8/2024; 12/9/2024, và 13/10/2024 anh K chuyển khoản trả Vấn số tiền lãi là 27.000.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 4.931.506 đồng, số tiền thu lời bất chính là 22.068.494 đồng. Sau đó anh K đã trả 50.000.000 đồng tiền gốc cho V.
  • - Lần 3: Ngày 10/5/2024, V chuyển khoản cho anh K vay 50.000.000 đồng. Ngày 12/5/2024 và 27/5/2024 anh K chuyển khoản trả Vấn số tiền lãi là 6.500.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 1.187.214 đồng, số tiền thu lời bất chính là 5.312.786 đồng. Ngày 27/5/2024, anh K trả cho V số tiền gốc 50.000.000 đồng.
  • - Lần 4: Ngày 12/6/2024, V cho anh K vay số tiền 30.000.000 đồng. Trong các ngày 15/7/2024; 12/8/2024; 12/9/2024 và 13/10/2024 anh K chuyển khoản trả tiền lãi là 10.800.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 1.972.602 đồng, số tiền thu lời bất chính là 8.827.398 đồng. Ngày 13/10/2024, anh K trả tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng.

Như vậy, từ tháng 11/2023 đến ngày 12/6/2024, V đã 04 lần cho anh Nguyễn Cao K vay tổng số tiền 180.000.000 đồng, tính đến ngày 13/10/2024 V đã thu được số tiền lãi 55.800.000đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 10.191.780 đồng, số tiền thu lời bất chính là 45.608.220 đồng.

3. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2024 đến ngày 25/10/2024, V đã cho anh Phạm Văn B, sinh năm 1989 ở thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc vay tiền 06 lần với lãi suất là 3.000 đồng/1triệu/1ngày, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 01/01/2024, V chuyển khoản cho anh B vay 10.000.000 đồng. Ngày 09/01/2024, anh B chuyển khoản trả Vấn số tiền 10.270.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng tiền gốc và 270.000 đồng tiền lãi. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 49.315 đồng, số tiền thu lời bất chính là 220.685 đồng.
  • - Lần 2: Ngày 10/01/2024, V chuyển khoản cho anh B vay 10.000.000 đồng. Đến buổi chiều cùng ngày B chuyển khoản trả Vấn số tiền 10.200.000 đồng gồm 10.000.000 đồng tiền gốc và 200.000 đồng tiền lãi. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 5.479 đồng, số tiền thu lời bất chính là 194.521 đồng.
  • - Lần 3: Ngày 20/01/2024, V chuyển khoản cho anh B vay 10.000.000 đồng. Ngày 07/02/2024, anh B chuyển khoản trả cho V số tiền 10.500.000 đồng gồm 10.000.000 đồng tiền gốc và 500.000 đồng tiền lãi. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 91.324 đồng, số tiền thu lời bất chính là 408.676 đồng.
  • - Lần 4: Ngày 09/02/2024, Vấn chuyển khoản cho anh B vay 20.000.000 đồng. Trong các ngày 12/3/2024; 10/4/2024; 22/5/2024; 24/6/2024; 30/7/2024, 18/8/2024; 09/9/2024 và 12/10/2024 anh B chuyển khoản trả cho V số tiền lãi 14.400.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 2.630.136 đồng; số tiền thu lời bất chính là 11.769.864 đồng. Ngày 12/10/2024, anh B trả cho V 20.000.000 đồng tiền gốc.
  • - Lần 5: Ngày 19/3/2024, V chuyển khoản cho anh B vay 10.000.000 đồng. Trong các ngày 16/4/2024; 24/6/2024; 30/7/2024; 18/8/2024; 09/9/2024 và 12/10/2024 anh B chuyển khoản trả cho V số tiền lãi là 5.400.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 986.301 đồng; số tiền thu lời bất chính là 4.413.699 đồng. Ngày 12/10/2024, anh B chuyển khoản trả cho V số tiền gốc 10.000.000 đồng.
  • - Lần 6: Ngày 15/10/2024, V chuyển khoản cho Ba vay 3.000.000 đồng. Ngày 25/10/2024, anh B chuyển trả cho V số tiền 3.200.000 đồng gồm 3.000.000 đồng tiền gốc và 200.000 đồng tiền lãi, còn nợ 100.000 đồng tiền lãi nhưng V cho anh B. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 36.529 đồng; số tiền thu lời bất chính là 163.471 đồng.

Như vậy, từ ngày 01/01/2024 đến ngày 15/10/2024, V đã 06 lần cho anh Phạm Văn B vay tổng số tiền 63.000.000 đồng, tính đến ngày 25/10/2024 V đã thu được số tiền lãi 20.970.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 3.830.136 đồng, số tiền thu lời bất chính là 17.139.864 đồng.

Từ tháng 11/2023 đến tháng 10/2024, Hà Đức V đã cho 03 người vay lãi nặng là anh Q, anh K và anh B với tổng số tiền gốc cho vay là 1.243.000.000 đồng. Anh Q, anh C và anh B đã trả đủ tiền gốc cho V. Tổng số tiền lãi đã thu được: 231.020.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 42.195.433 đồng; số tiền thu lời bất chính là 188.824.567 đồng.

Ngày 14/3/2025, Hà Đức V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 300/LPT-ĐCSKT-MT ngày 13/11/2024: Yêu cầu Ngân hàng TMCP C1 (V1) - Chi nhánh V2 phong tỏa số tiền 2.000.000 đồng trong tài khoản số [...] của Hà Đức V.

Vật chứng thu giữ:

Thu của anh Nguyễn Cao K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng gold, kiểu máy Galaxy J2 Pro, số I: 356458093823029/01.

Ngày 31/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1354, gửi đến Phòng K1 Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với điện thoại của anh K. Ngày 18/11/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V có Kết luận giám định số 3293, kết luận: Khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong mẫu vật gửi giám định. Qua phân tích, tìm kiếm dữ liệu theo yêu cầu giám định, thu được 66 ảnh màn hình điện thoại là tin nhắn ứng dụng Zalo giữa tài khoản Zalo tên “Nguyễn Cao K” với tài khoản Zalo tên “Vấn Nghi”. Kiểm tra dữ liệu trích xuất qua giám định có nội dung thể hiện việc nhắn tin qua lại giữa tài khoản Zalo tên “Nguyễn Cao K” với tài khoản Zalo tên “Vấn Nghỉ” liên đến vay mượn, nhận, chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã yêu cầu Ngân hàng TMCP C1 - chi nhánh tỉnh V2; Ngân hàng Đ - chi nhánh V2; Ngân hàng N1 - chi nhánh L; sao kê tài khoản của Hà Đức V, Phạm Văn B, Nguyễn Ngọc Q và Nguyễn Cao K, kết quả thể hiện việc chuyển tiền vay và nhận tiền gốc, lãi hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 55/CT- VKS-LT ngày 31/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố bị cáo Hà Đức V về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Đức V từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 08 tháng đến 03 năm. Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo 30.000.000 đồng. Đề nghị truy thu của Hà Đức V số tiền 1.243.000.000 đồng, xác nhận V đã tự nguyện nộp 30.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra. Truy thu của Hà Đức V số tiền 42.195.433 là tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm sung quỹ nhà nước. Xác nhận số tiền 188.824567 đồng là tiền thu lời bất chính V trả lại cho anh Q: 126.076.484 đồng; anh K: 45.608.220 đồng và anh B: 17.139.864 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ và đề nghị xin được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hà Đức V: Từ ngày 18/01/2024 đến ngày 28/10/2024, V đã 11 lần cho anh Nguyễn Ngọc Q vay tổng số tiền 1.000.000.000 đồng; anh Q đã trả đủ tiền gốc cho V, V đã thu được tổng số tiền lãi 154.250.000 đồng. Trong đó tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm là 28.173.516 đồng, số tiền thu lời bất chính là 126.076.484 đồng.

Từ tháng 11/2023 đến ngày 12/6/2024, V đã 04 lần cho anh Nguyễn Cao K vay tổng số tiền 180.000.000 đồng; V đã thu được số tiền lãi 55.800.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 10.191.780 đồng, số tiền thu lời bất chính là 45.608.220 đồng.

Từ ngày 01/01/2024 đến ngày 15/10/2024, V đã 06 lần cho anh Phạm Văn B vay tổng số tiền 63.000.000 đồng; V đã thu được số tiền lãi 20.970.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 3.830.136 đồng, số tiền thu lời bất chính là 17.139.864 đồng.

Như vậy từ tháng 11/2023 đến tháng 10/2024, Hà Đức V đã cho 03 người vay lãi nặng là anh Q, anh K và anh B với tổng số tiền gốc cho vay là 1.243.000.000 đồng. Anh Q, anh C và anh B đã trả đủ tiền gốc cho V. Tổng số tiền lãi đã thu được: 231.020.000 đồng. Trong đó số tiền lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định (20%/năm) là 42.195.433 đồng; số tiền thu lời bất chính là 188.824.567 đồng.

Xét lời nhận tội của bị cáo Hà Đức V tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng của vụ án, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hà Đức V đã cho 03 người vay tiền số tiền gốc là 1.243.000.000 đồng với mức lãi suất 3.000đồng/1triệu/1ngày, tương đương với lãi suất 109,5%/năm cao gấp 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015, anh Q, anh K và anh B đã trả lãi cho V 1.243.000.000 đồng tiền gốc và 231.020.000 đồng tiền lãi, số tiền V thu lời bất chính là 188.824.567 đồng.

Hành vi cho vay với mức lãi suất cao gấp 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự để thu lời bất chính 188.824.567 đồng của bị cáo Hà Đức V đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lời bất chính 100.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

”.

Xét tính chất của vụ án ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo Hà Đức V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân. Do vậy phải xử lý nghiêm bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân nhân bị cáo Hà Đức V là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, sau khi phạm tội bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả bằng việc trả lại số tiền thu lời bất chính cho những người vay tiền của bị cáo ( là anh Q, anh K và anh B), bị cáo tự nguyện nộp 30.000.000 đồng để khắc phục hậu quả đối với số tiền bị truy thu, sau khi biết được hành vi của mình là phạm tội đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đầu thú, ngoài ra bị cáo còn ủng hộ 500.000 đồng vào quỹ khuyến học xã T, huyện L nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, trong vụ án này bị cáo V thu lời bất chính của anh Q và anh K mỗi người số tiền trên 30.000.000 đồng. Do vậy, bị cáo V phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra đã tự nguyện trả lại tiền thu lời bất chính cho các bị hại, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo ấn định thời gian thử thách giao bị cáo Hà Đức V cho Ủy ban nhân dân xã T và Công an xã T nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, cũng là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng....”. Cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý đối với số tiền gốc, tiền lãi đã trả:

Bị cáo Hà Đức V sử dụng số tiền 1.243.000.000 đồng để cho anh Q, anh K và anh B vay. Anh Q, anh K và anh B đã trả Vấn số tiền này, đây là số tiền sử dụng vào việc phạm tội nên cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước, xác nhận V đã tự nguyện nộp 30.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra. Do vậy cần truy thu tiếp của Hà Đức V số tiền 1.213.000.000 đồng. Đối với số tiền 231.020.000 đồng trong đó 42.195.433 là tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm cần truy thu sung quỹ nhà nước; số tiền 188.824.567 đồng là tiền thu lời bất chính cần buộc bị cáo V trả lại cho anh Q: 126.076.484 đồng; trả cho anh K: 45.608.220 đồng và trả cho anh B: 17.139.864 đồng. Xác nhận bị cáo đã trả đủ cho anh Q, anh K và anh B.

[5] Về án phí: Bị cáo Hà Đức V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Hà Đức V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 201; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Đức V 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hà Đức V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc giáo dục và Công an xã T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát bị cáo Hà Đức V trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi về nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Phạt tiền bị cáo Hà Đức V số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Số tiền phạt sung vào ngân sách nhà nước.

Về xử lý số tiền liên quan và vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

Truy thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền gốc Hà Đức V sử dụng làm phương tiện phạm tội là 1.243.000.000 đồng. Xác nhận ngày 13/5/2025 Hà Đức V đã nộp số tiền 30.000.000 đồng tại cơ quan điều tra. Bị cáo Hà Đức V còn phải nộp số tiền là 1.213.000.000 đồng (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).

Truy thu của bị cáo Hà Đức V số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo Bộ luật Dân sự là: 42.195.433 đồng.

Hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản số 300/LPT-ĐCSKT-MT ngày 13/11/2024 của Công an huyện L đối với số tiền 2.000.000 đồng trong tài khoản số [...] của Hà Đức V tại Ngân hàng thương mại cổ phần C1 - Chi nhánh V2 (V1). Ngân hàng thương mại cổ phần C1 - Chi nhánh V2 có trách nhiệm phối hợp với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch thực hiện.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hà Đức V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch;
  • - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - UBND xã T, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Đức Vân cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger