|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2025/HS-ST Ngày 18-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Trần Phúc;
Bà Nguyễn Xuân Thuỷ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Lai – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Thị N, sinh năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh.
Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị H (đã chết); có chồng tên Nguyễn Văn T (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 25/01/2025, đến ngày 03/02/2025 được trả tự do tại Quyết định số 164/QĐ-ĐTTH và được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 58/LC-ĐTTH từ ngày 03/02/2025 cho đến nay (có mặt).
2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1988 tại tỉnh Tây Ninh.
Nơi cư trú: ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Mạch Thị P; có vợ tên Lê Thị N (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 25/01/2025, chuyển tạm giam ngày 03/02/2025 cho đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 25/01/2025, bị cáo Nguyễn Văn T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone, loại: 15 Pro, màu: bạc, có số thuê bao 0908.826.913 gọi vào điện thoại di động nhãn hiệu: Oppo, loại: A18, màu: đen có số thuê bao 0908.600.872 của bị cáo Lê Thị N là vợ của bị cáo T (đã ly hôn), T nhờ bị cáo N mua 02 hộp pháo loại 138 nòng về bán lại nhằm thu lợi, N đồng ý và N cũng đi mua pháo nổ về bán lại để thu lợi. Sau đó, N điều khiển xe mô tô loại: Wave, màu: xanh, biển số: 70K4-8440 của N và T điều khiển xe mô tô biển số: 70D1-525.50 của T cùng đi đến khu vực bờ sông đường biên giới Việt Nam tiếp giáp với Campuchia thuộc ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh. T đưa số tiền 1.820.000 đồng cho N để trả tiền mua pháo. Tại đây, N thấy có 01 chiếc xuồng, loại xuồng chèo tay của người dân đi cắt cỏ để cập bờ sông, N tự lấy xuồng chèo sang bờ sông thuộc địa phận Campuchia, còn T ở lại cặp bờ sông C.
Khi sang Campuchia, N gặp người đàn ông tên D (người Campuchia, không rõ nhân thân, lai lịch), N đưa cho ông D số tiền Việt Nam 4.220.000 đồng để mua pháo nổ. Nhận tiền xong, ông D đưa cho Nỡ 03 hộp pháo nổ, loại 100 nòng và 02 hộp pháo nổ loại 138 nòng đựng trong bao tải màu trắng, loại bao tải đựng gạo. Sau khi nhận pháo nổ từ ông D, N chất 05 hộp pháo nổ đã mua lên xuồng chèo quay lại bờ sông phía Việt Nam. Nỡ lấy bao tải đựng 03 hộp pháo nổ, loại 100 nòng để trên baga trước xe mô tô của N, còn T lấy bao tải đựng 02 hộp pháo nổ loại 138 nòng để trên baga trước xe mô tô của T.
Sau đó cả hai điều khiển xe mô tô đi về, khi đến khu vực rừng thuộc ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh phối hợp với Đồn Biên phòng V, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Đồn Biên phòng L, huyện T, tỉnh Tây Ninh và Phòng phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh T bắt quả tang đối với Lê Thị N lúc 11 giờ 50 phút và bắt quả tang đối với Nguyễn Văn T lúc 12 giờ 30 phút cùng ngày 25/01/2025, thu giữ vật chứng là 05 hộp pháo đã được niêm phong và các đồ vật có liên quan.
* Kết luận giám định số: 197/KL-KTHS ngày 03/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 02 (hai) hộp giấy nhiều màu sắc bên trong mỗi hộp có 138 (một trăm ba mươi tám) trụ hình tròn ghi chữ T4138 được niêm phong gửi đến giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu. Khối lượng: 9,85 kg (chín phẩy tám mươi lăm kí lô gam).
* Kết luận giám định số: 198/KL-KTHS ngày 03/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 03 (ba) hộp giấy bên ngoài hộp có nhiều màu sắc, ghi chữ nước ngoài và ký hiệu KS4-10011 BILLION TIME, bên trong mỗi hộp có 100 (một trăm) trụ hình tròn được niêm phong gửi đến giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu. Khối lượng: 10,95 kg (mười phẩy chín mươi lăm kí lô gam).
* Kết luận giám định số: 773/KL-KTHS ngày 19/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
+ 01 (một) xe mô tô biển số: 70K4- 8440, màu: xanh, số máy: VTTJL1P52FMH010159, số khung: VTTDCH033TT010159 có số khung và số máy không bị đục xoá.
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda, màu: đỏ đen, biển số: 70D1-525.50, số khung: RLHJA3640GY161733, số máy: JA36E0711694 có số khung và số máy không bị đục xoá.
* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
- 02 (hai) hộp giấy bên ngoài hộp có nhiều màu sắc, bên trong mỗi hộp có 100 (một trăm) trụ hình tròn và ký hiệu KS4-10011 BILLION TIME (Do Phòng K đã lấy 01 hộp làm mẫu giám định) có tổng trọng lượng 7,2 kg.
- 01 (một) hộp giấy nhiều màu sắc bên trong mỗi hộp có 138 (một trăm ba mươi tám) trụ hình tròn ghi chữ T4138 (Do Phòng K đã lấy 01 hộp làm mẫu giám định) có tổng trọng lượng 4,95kg.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Oppo, loại: A18, màu: đen, số IMEI 1: 866227065546139, số IMEI 2: 866227065546121 (đã qua sử dụng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone, loại: 15 Pro, màu: bạc, số IMEI 1: 353462945964448, số IMEI 2: 3534629458000493 (đã qua sử dụng).
- 01 (một) xe mô tô biển số: 70K4- 8440, màu: xanh, số máy: VTTJL1P52FMH010159, số khung: VTTDCH033TT010159 (đã qua sử dụng).
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda, màu: đỏ đen, biển số: 70D1-525.50, số khung: RLHJA3640GY161733, số máy: JA36E0711694 (đã qua sử dụng).
* Về kê biên tài sản:
- Kê biên tài sản của Lê Thị N:
+ 01 (một) phần đất diện tích 5.169m² thuộc thửa đất 123, tờ bản đồ 14, toạ lạc ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07003, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 11/10/2018.
+ 01 (một) phần đất diện tích 4.127,4m² thuộc thửa đất 100, tờ bản đồ 14, toạ lạc ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05044, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 29/11/2016.
- Kê biên tài sản của Nguyễn Văn T: 01 (một) thửa đất diện tích 5.169 m² thuộc thửa đất 123, tờ bản đồ 14, toạ lạc ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07003, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 11/10/2018.
Tại bản Cáo trạng số: 36/CT-VKSCT ngày 30 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Lê Thị N và Nguyễn Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lê Thị N và Nguyễn Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị N từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù giam.
Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước điện thoại và xe mô tô của các bị cáo.
Bị cáo Lê Thị N nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt tiền để bị cáo được ở nhà nuôi con nhỏ.
Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt tiền để bị cáo được ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị N và Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Khoảng hơn 11 giờ ngày 25/01/2025 tại khu vực biên giới thuộc địa phận nước Campuchia, bị cáo Lê Thị N và bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi mua pháo nổ mang về Việt Nam để bán nhằm thu lợi bất chính. Trong đó, bị cáo N là người trực tiếp chèo xuồng sang Campuchia liên hệ mua 05 hộp pháo nổ, bị cáo T ở cặp bờ sông C. Bị cáo N dùng 2.400.000 đồng mua 03 hộp pháo nổ, loại 100 nòng có khối lượng 10,95 kg; bị cáo T dùng 1.820.000 đồng mua 02 hộp pháo nổ loại 138 nòng có khối lượng 9,85 kg, tổng khối lượng là 20,80 kg (kilogram). Đến 11 giờ 50 phút và 12 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo N và bị cáo
T đi đến đoạn đường thuộc ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh thì bị bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm 05 hộp pháo nổ có khối lượng 20,80 kg (kilogram) và một số tài liệu, đồ vật khác có liên quan.
[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản cáo trạng, lời luận tội của kiểm sát viên và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo các Lê Thị N và Nguyễn Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nói chung và khu vực biên giới nói riêng. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi các bị cáo đã thực hiện, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Khi quyết định hình phạt, có xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
- Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo N là lao động duy nhất trong gia đình và đang nuôi con nhỏ. Bị cáo Tân sống cùng và chăm sóc cha mẹ già yếu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về áp dụng hình phạt: Xét thấy, vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị can khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và có nơi cư trú rõ ràng. Số pháo các bị cáo bị bắt không lớn. Các bị cáo nhận thức pháp luật về buôn bán hàng cấm còn hạn chế. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo N giao nộp sổ tiết kiệm và gia đình bị cáo T nộp thay bị cáo T số tiền đảm bảo thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành để chứng minh về tài sản. Ngoài ra, bị cáo N còn bị kê biên tài sản gồm 01 quyền sử dụng đất là tài sản riêng và 01 quyền sử dụng đất bị kê biên chung với bị cáo T là tài sản chung của bị cáo N và bị cáo T. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt hình phạt tiền dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội vẫn đảm bảo giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và vừa đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ của hành vi
phạm tội của từng bị cáo thì thấy rằng, bị cáo N giữ vai trò chính là người trực tiếp chèo xuồng sang Campuchia để mua pháo nổ, bị cáo T ở cặp bờ sông thuộc lãnh thổ Việt Nam chờ, nên bị cáo N phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T.
[7] Đối với người đàn ông Campuchia tên D bán pháo nổ cho bị cáo N và bị cáo T, do là người Campuchia và không xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không làm việc được, là có căn cứ.
[8] Về xử lý vật chứng:
- 02 (hai) hộp giấy bên ngoài hộp có nhiều màu sắc, bên trong mỗi hộp có 100 (một trăm) trụ hình tròn và ký hiệu KS4-10011 BILLION TIME có tổng trọng lượng 7,2 kg; 01 (một) hộp giấy nhiều màu sắc bên trong mỗi hộp có 138 (một trăm ba mươi tám) trụ hình tròn ghi chữ T4138 có tổng trọng lượng 4,95kg là hàng cấm nên tịch thu tiêu huỷ.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Oppo, loại: A18, màu: đen, số IMEI 1: 866227065546139, số IMEI 2: 866227065546121 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone, loại: 15 Pro, màu: bạc, số IMEI 1: 353462945964448, số IMEI 2: 3534629458000493 (đã qua sử dụng); 01 (một) xe mô tô biển số: 70K4-8440, màu: xanh, số máy: VTTJL1P52FMH010159, số khung: VTTDCH033TT010159 (đã qua sử dụng) và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda, màu: đỏ đen, biển số: 70D1-525.50, số khung: RLHJA3640GY161733, số máy: JA36E0711694 (đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[9] Về kê biên tài sản: Do áp dụng hình phạt tiền nên tiếp tục duy trì các Lệnh kê biên tài sản số 1042/LKB-CSKT và 1043/LKB-CSKT cùng ngày 15/5/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã áp dụng đối với các bị cáo Lê Thị N và Nguyễn Văn T theo quy định tại Điều 128 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[10] Về án phí: Các bị cáo Lê Thị N và Nguyễn Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 35 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Xử phạt bị cáo Lê Thị N 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng.
Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 35 Bộ luật Hình sự, khoản 3 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo T đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn T đã nộp số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng bảo đảm thi hành án theo biên lai thu số 0004160 ngày 17/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai) hộp giấy bên ngoài hộp có nhiều màu sắc, bên trong mỗi hộp có 100 (một trăm) trụ hình tròn và ký hiệu KS4-10011 BILLION TIME có tổng trọng lượng 7,2 kg; 01 (một) hộp giấy nhiều màu sắc bên trong mỗi hộp có 138 (một trăm ba mươi tám) trụ hình tròn ghi chữ T4138 có tổng trọng lượng 4,95kg (hiện đang tạm giữ tại Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh T).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Oppo, loại: A18, màu: đen, số IMEI 1: 866227065546139, số IMEI 2: 866227065546121 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone, loại: 15 Pro, màu: bạc, số IMEI 1: 353462945964448, số IMEI 2: 3534629458000493 (đã qua sử dụng); 01 (một) xe mô tô biển số: 70K4-8440, màu: xanh, số máy: VTTJL1P52FMH010159, số khung: VTTDCH033TT010159 (đã qua sử dụng) và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda, màu: đỏ đen, biển số: 70D1-525.50, số khung: RLHJA3640GY161733, số máy: JA36E0711694 (đã qua sử dụng).
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đang quản lý).
4. Về kê biên tài sản: Căn cứ Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục duy trì các Lệnh kê biên tài sản số 1042/LKB-CSKT và 1043/LKB-CSKT cùng ngày 15/5/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã áp dụng đối với các bị cáo Lê Thị N và Nguyễn Văn T.
5. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Các bị cáo Lê Thị N và Nguyễn Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Phượng |
Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 47/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Thị N và Nguyễn Văn T phạm tội "Buôn bán hàng cấm" quy định tại K2Đ190BLHS
