Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ XUÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-ST

Ngày: 16 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Như Thuần.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trọng Minh Thông và bà Trần Thị Ngọc Quyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Xuân, thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Xuân, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số: 95/TB-TA ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Hoàng Văn B, sinh ngày: 20/7/1994, tại thành phố H; giới tính: Nam; CCCD số: [...]; nơi cư trú: P - H, khu V, phường H, quận P, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Hoàng Thị M; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; chưa có vợ, con.

Nhân thân: Ngày 09/5/2012 bị Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng, về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 40/QĐ-XPVPHC. Ngày 10/4/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 03/2015/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/10/2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 10/12/2024 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Cháu Võ Lê Phương N, sinh ngày: 10/9/2014; Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường H, quận T, thành phố H; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Võ Văn D, sinh năm: 1988 và bà Lê Thị L1, sinh năm: 1993; Nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường H, quận T, thành phố H (là cha mẹ của bị hại); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Đỗ Thị Thanh H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H thuộc Sở Tư pháp thành phố Huế; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị L1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường H, quận T, thành phố H; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Tâm P, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn G, xã H, thị xã H, thành phố H; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07 tháng 12 năm 2024, B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75U1-2783 chạy theo hướng bờ sông thuộc tổ dân phố T, phường H, quận P, thành phố H thì gặp cháu Võ Lê Phương N (sinh ngày: 10/9/2014) đang ngồi chơi ở đường bê tông, trên tay cháu N đang cầm điện 01 thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 nên Biển nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại. Biển điều khiển xe mô tô đến gần cháu N và nói với cháu N: “Bé về mẹ kêu tề” thì cháu N để điện thoại vào giỏ xe đạp chuẩn bị dắt xe vào nhà ở gần đó. Lúc này, B điều khiển xe mô tô chạy đến dùng tay trái giật lấy điện thoại trong giỏ xe đạp rồi rú ga bỏ chạy, lúc này cháu N hô hoán “Chú, trả điện thoại cho cháu” nhưng B vẫn tiếp tục chạy. Khi B chạy xe lên đến đoạn đường N, phường H, quận P, thành phố H thì bị Công an phường H bắt giữ và thu giữ điện thoại di động trên người của Biển. Cùng ngày, cháu Võ Lê Phương N và mẹ ruột là chị Lê Thị L1 có đơn trình báo cho Công an phường H, quận P, thành phố H giải quyết.

Kết luận định giá tài sản số: 6858/KL-HĐĐGTS ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận như sau: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 có giá trị là 800.000 đồng.

* Về vật chứng, tài liệu, đồ vật thu giữ gồm:

  • - 01 điện thoại di động hiệu S A03, màu đen, Imei số 353151937137297.
  • - 01 xe mô tô hiệu handle, màu đen, biển kiểm soát 75U1-2783, số khung: RPDWCH7PD5A0P2317, số máy: VLFPD1P52FMH35A1P2317.

* Về xử lý vật chứng:

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định xử lý vật chứng số 94/QĐ-ĐTTH, trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, màu đen, I số 353151937137297 cho chủ sở hữu là chị Lê Thị L1.

Đối với 01 xe mô tô hiệu handle, màu đen, biển kiểm soát 75U1-2783, số khung: RPDWCH7PD5A0P2317, số máy: VLFPD1P52FMH35A1P2317 tạm giữ của Hoàng Văn B thì tiếp tục tạm giữ và chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Xuân để phục vụ công tác truy tố, xét xử.

Tại bản Cáo trạng số: 38/CT-VKSPX ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân, thành phố H đã truy tố bị cáo Hoàng Văn B về tội “Cướp giật tài sản” theo các điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Văn B từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Handle, màu đen, biển kiểm soát 75U1-2783, số khung: RPDWCH7PD5A0P2317, số máy: VLFPD1P52FMH35A1P2317 của Hoàng Văn B. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo luật định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[1.2] Tại phiên tòa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã thu thập lời khai của những người này, họ cũng đã có đơn xin vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng quá trình xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về tội danh:

Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07 tháng 12 năm 2024, tại tổ dân phố T, phường H, quận P, thành phố H; Hoàng Văn B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75U1-2783 đến gần xe đạp của cháu Võ Lê Phương N (sinh năm 2014) rồi dùng tay giật lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 ở giỏ xe đạp của cháu N rồi tẩu thoát. Tại thời điểm bị chiếm đoạt, chiếc điện thoại S A03 có giá trị 800.000 đồng.

Bị cáo điều khiển xe mô tô tiếp cận bị hại là cháu Võ Lê Phương N mới hơn 10 tuổi nhằm nhanh chóng giật chiếc điện thoại rồi nhanh chóng tẩu thoát là thủ đoạn có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của bị hại nên đã phạm vào hai tình tiết định khung tăng nặng là “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi”. Hành vi trên của Hoàng Văn B đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” quy định tại các điểm d, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân truy tố bị cáo B về tội danh, điểm, khoản, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; phía bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ sức khỏe, nhận thức quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng vì lười lao động, muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không phải vất vả nên cố tình tìm kiếm sơ hở, mất cảnh giác của người khác để thực hiện hành vi phạm tội. Nhân thân bị cáo đã bị xử lý vi phạm hành chính, bị kết án về tội xâm phạm sở hữu nhưng vẫn không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết chấp hành pháp luật và lao động chân chính; đồng thời để đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định xử lý vật chứng số 94/QĐ-ĐTTH, trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, màu đen, I số 353151937137297 cho chủ sở hữu chị Lê Thị L1 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô hiệu handle, màu đen, biển kiểm soát 75U1-2783, số khung: RPDWCH7PD5A0P2317, số máy: VLFPD1P52FMH35A1P2317 của Hoàng Văn B, không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị L1 đã nhận lại chiếc điện thoại và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Các điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 08/12/2024.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Handle, màu đen, biển kiểm soát 75U1-2783, số khung: RPDWCH7PD5A0P2317, số máy: VLFPD1P52FMH35A1P2317 của Hoàng Văn B.

(Vật chứng có đặc điểm theo tại Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Xuân, thành phố H).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Hoàng Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; những người trên vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - VKSND quận Phú Xuân;
  • - Chi cục THADS quận Phú Xuân;
  • - Bị cáo; bị hại; đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Như Thuần

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HOÀNG VĂN BIỂN - CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger