Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-ST

Ngày 14-4-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc;

Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Cảnh;

Bà Trần Thị Đẹp;

Bà Nguyễn Thị Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Ông Lê Hoàng Dương và ông Nguyễn Đình Tuyên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 và 14 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 156/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn L, sinh năm 1996, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Huỳnh Thị S; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 08/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; chấp hành án xong vào ngày 13/01/2020;

- Ngày 27/8/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 207/2024/HS-ST ngày 27/8/2024;

2

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 25 tháng 10 năm 2023 (trong vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”) cho đến nay, có mặt;

2. Nguyễn Văn L1 (tên gọi khác: Ốc); sinh năm 1993 tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn E, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn X và bà Bùi Thị T2; bị cáo có vợ (đã ly hôn) và 03 người con; tiền sự: không;

Tiền án: Ngày 24/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đã chấp hành án xong vào ngày 20/9/2022;

Bị cáo bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam từ ngày 05 tháng 6 năm 2023 đến nay, có mặt;

3. Lê Bích T3 (tên gọi khác: H), sinh năm 1996, tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ tên và bà Lê Thị H1; bị cáo có chồng và có 04 người con; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 17/01/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 17/01/2024;

Bị cáo bị bắt ngày 16/01/2024 (trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”) cho đến nay, có mặt;

4. Huỳnh Văn P, sinh năm 1991, tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: A, Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, nơi tạm trú: khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn P1 và bà Trịnh Thị Tuyết N; bị cáo có vợ và có 01 người con; tiền sự: không;

Tiền án: Ngày 07/5/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 125/2021/HS-ST ngày 07/5/2021, chấp hành xong hình phạt vào ngày 29/09/2022;

Nhân thân:

- Ngày 26/10/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 161/2007/HSST. Ngày 14/12/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử

3

phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 124/2007/HSPT. Bị cáo đã chấp hành và được trả tự do vào ngày 30/8/2010;

- Ngày 22/9/2020, Công an phường A, thành phố T tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 750.000 (bảy trăm năm mươi nghìn) đồng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” (chưa nộp phạt);

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 07 tháng 6 năm 2023 đến nay, có mặt;

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L1: Ông Nguyễn Chánh T4 – Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Bích T3: Bà Ngô Thanh T5 – Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Đoàn Thị Quế H2, sinh năm 1997, nơi cư trú: Số A, tổ A, ấp B, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt;

2. Ông Trần Minh D, sinh năm 1999; nơi cư trú: 5, đường T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt;

3. Bà Nguyễn Thị Mỹ K, sinh năm 1989; nơi cư trú: phòng khám N4, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin xét xử vắng mặt;

4. Bà Võ Thị Tường V, sinh năm 2006; nơi cư trú: 1, đường L, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt khi tuyên án;

· Người làm chứng:

1. Bà Cao Thị Cẩm T6; vắng mặt;

2. Bà Lại Thị T7; vắng mặt;

3. Ông Trần Vũ Hoàng N1; vắng mặt;

4. Ông Đặng Văn Â; vắng mặt;

5. Ông Phạm Văn R, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn L là đối tượng nghiện ma tuý, để có tiền tiêu xài cá nhân, L đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý trên địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương, nguồn ma tuý do L mua của một người đàn ông tên T9 (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực chân cầu P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. L sử dụng số điện thoại và tài khoản ngân hàng số 0382624645 mở tại Ngân hàng M để thực hiện các giao dịch chuyển khoản mua bán trái phép chất ma tuý hoặc đến địa chỉ khu vực đường H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để trực tiếp mua bán ma tuý.

4

Khoảng tháng 6 năm 2023, L đã thực hiện các giao dịch mua bán ma tuý cho các đối tượng như sau:

1. Hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” của Trần Văn L, Nguyễn Văn L1 và Lê Bích T3 và hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” của Nguyễn Văn L1.

Nguyễn Văn L1 và Lê Bích T3 là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với nhau như vợ chồng (không có đăng ký kết hôn), cả hai không có việc làm, khoảng giữa tháng 5/2023, cả hai nảy sinh ý định bàn bạc mua bán trái phép chất ma tuý để có tiền sinh sống và nuôi con. Lại, T3 thuê phòng trọ số 7A thuộc cơ sở trọ địa chỉ: 1 tổ B, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (viết tắt là phòng trọ số 7A) và phòng trọ số 01 thuộc cơ sở trọ địa chỉ: A tổ I, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (viết tắt là phòng trọ số 01) để sinh sống và cất giấu ma túy. Lại, T3 thường mua ma túy của Trần Văn L và được một người tên V1 (không rõ lai lịch) cho để L1 bán cho những người nghiện ma túy. Cách thức mua ma tuý là L1 sử dụng điện thoại Nokia số 0334.358.xxx gọi vào số điện thoại 0382.624.xxx của L đặt mua ma túy. Sau đó, L hẹn giao ma túy tại nhà L thuộc đường H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Lại thường điều khiển xe môtô biển số 66B1-106.90 chở theo T3 đến nhà L để nhận ma túy, riêng lần mua ma tuý cuối cùng vào ngày 05/6/2023 thì L1 đi một mình. Lại trả tiền mua ma túy cho L bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 7464341 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A), tên chủ tài khoản là Nguyễn Văn S1 (do trước đó L1 nhặt được căn cước công dân của S1 để đăng ký mở tài khoản ngân hàng) chuyển tiền vào tài khoản của Lý số 0382624645 mở tại Ngân hàng Q1 (M), tên chủ tài khoản là Trần Văn L.

Sau khi mua ma túy, L1, T3 mang về cất giấu tại phòng trọ số 7A và phòng trọ số A, Lại phân chia ma túy thành nhiều gói nhỏ để bán lại cho các đối tượng nghiện trên địa bàn để kiếm lời. Khi cần mua ma túy, các đối tượng sẽ gọi vào số điện thoại 0334.358.xxx của L1 để đặt mua ma túy, sau đó L1 hoặc Tiền sẽ hẹn địa điểm giao ma túy không cố định trên địa bàn thành phố T và nhận tiền.

Lại đã mua ma túy của L từ khoảng cuối tháng 5/2023 đến ngày bị Cơ quan Cảnh sát điều tra phát hiện được khoảng 04 lần nhưng không nhớ chính xác thời gian, chỉ nhớ lần cuối cùng, cụ thể như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 05/6/2023, L1 điện thoại cho L hỏi mua “50 số ma tuý đá” (khoảng 5 gam) với giá 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng), địa điểm giao ma túy tại nhà L. Sau đó, L1 điều khiển xe mô tô biển số 66B1-106.90 đến nhà L nhận 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “CRAVEN” bên trong có 01 túi nylon miệng kéo

5

dính chứa ma tuý đá, số tiền mua ma túy Lại chuyển khoản thanh toán cho L. Sau đó, L1 đem về phòng trọ số 01 chia vào 04 gói nylon loại nhỏ rồi dùng bật lửa hàn kín hai đầu, L1 lấy 03 gói ma tuý vừa chia nhỏ để vào 01 túi nylon miệng kéo dính, 01 gói ma túy còn lại đặt lên bàn, số ma tuý dư sau khi đã phân chia thành 04 gói nylon thì Lại để trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “CRAVEN”. Đến 11 giờ 30 phút, Huỳnh Văn Đ gọi điện thoại cho L1 hỏi mua ma túy và chuộc lại Căn cước công dân của Đ cầm cho L1. Lúc này, T3 nghe máy nên nói cho L1 biết Đ gọi mua ma tuý với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Trong đó: mua ma tuý 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và tiền chuộc lại Căn cước công dân là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), L1 đồng ý và kêu T3 lấy 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong đựng 03 gói nylon hàn kín để trên bàn đi giao cho Đ. Tiền để ma túy trong túi quần bên phải và điều khiển xe mô tô biển số 66B1-106.90 đến số nhà A khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giao ma tuý cho Đ, trên đường đi thì bị Công an phường B kiểm tra, tạm giữ 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong đựng 03 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu M1); 01 (một) xe mô tô biển số 66B1-106.90 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI 31 kèm sim số 0357.115.001. Cùng ngày, Công an phường B chuyển nguồn tin và vật chứng trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.

Trong lúc T3 đi bán ma túy cho Đ thì L1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đổ một ít ma túy từ trong túi nylon đựng trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “CRAVEN” đốt nóng rồi sử dụng. Trong lúc đang sử dụng ma túy, Trần Minh D, sinh năm 1999, nơi thường trú: xã V, huyện C, tỉnh An Giang và Đoàn Thị Quế H2, sinh năm 1997, nơi thường trú: Thôn E, xã E; huyện K, tỉnh Đắk Lắk đến phòng trọ để lấy tiền mua sữa cho con của L1 (do H2 nhận giữ con của L1, T3). Khi thấy D, H2 đến phòng trọ của mình, L1 rủ D, H2 cùng sử dụng ma tuý, D, H2 đồng ý. Trước đó, D và H2 đã đến phòng trọ của Lại để sử dụng ma tuý được 03 lần. Những lần này, số ma tuý sử dụng đều do L1 cung cấp để sử dụng, Lại không nhận tiền hay thu lợi nhuận, vật chất nào từ D và H2.

Ngày 05/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp tại phòng trọ số A, địa chỉ: A tổ I, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương phát hiện Nguyễn Văn L1, Trần Minh Dvà Đoàn Thị Quế H2 đang sử dụng trái phép chất ma túy và tạm giữ:

Dưới kệ bếp nấu ăn: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa, nắp nhựa màu đen đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn 01 (một) ống thủy tinh dạng nỏ, trong ống thủy tinh có dính chất màu nâu (ký hiệu M2).

6

Dưới nệm ngủ đặt trong phòng: 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M3).

Trên bàn gỗ (loại bàn nhỏ) dưới chân cầu thang lên gác trọ (bên phải hướng từ cửa phòng nhìn vào):

- 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “CRAVEN” màu trắng xanh bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M4).

- 01 (một) hộp giấy màu xanh dương bên trong có 01 (một) ví vải màu nâu có khóa kéo bên trong đựng 01 (một) cân điện tử in chữ Manlloro, 01 (một) cân điện tử màu đen (không có nhãn hiệu), 01 (một) cây kéo bằng kim loại, 50 (năm mươi) túi nylon không chứa gì.

Vị trí trên đầu tủ lạnh: 01 (một) hộp nhựa màu trắng có in chữ White Dream bên trong có 02 (hai) túi nylon miệng kéo dính viền màu đỏ đều chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M5-1, M5-2).

Trên cửa sổ phòng trọ: 01 (một) ví da màu nâu nhạt (loại gấp), bên trong có:

+ 01 (một) Căn cước công dân số [...] cấp ngày 04/10/2022 tên Nguyễn Thị Mỹ K, sinh ngày 04/3/1989, nơi thường trú: ấp H, H, T, Đồng Nai.

+ 01 (một) Căn cước công dân số [...] cấp ngày 18/8/2022 tên Nguyễn Ngọc D1, sinh ngày 29/6/1997, nơi thường trú: Thôn V, M, P, Bình Định.

+ 01 (một) Căn cước công dân số [...] cấp ngày 29/4/2021 tên Võ Thị Tường V, sinh ngày 13/8/2006, nơi thường trú: 1369/172, Lê Hồng P2, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

+ 09 (chín) Căn cước công dân (bản phô tô) số [...] cấp ngày 28/6/2021 tên Nguyễn Văn S1, sinh ngày 19/10/1994, nơi thường trú: Bản Tông S2, Thạch N2, C, Nghệ An.

Tạm giữ trên người của Nguyễn Văn L1: 01 (một) ví da màu đen ghi chữ ARMANI màu đen bên trong có 01 Căn cước công dân số [...] cấp ngày 16/05/2022 tên Huỳnh Văn Đ, sinh ngày 11/01/2004, nơi thường trú: ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu và 01 (một) điện thoại di động Redmi màu xanh kèm sim số 0921.788.529. Ngoài ra, tạm giữ của Lại 01 (một) điện thoại NOKIA màu đen kèm sim số 0334358823 (không có nắp phía sau).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khám xét khẩn cấp tại phòng trọ số 7A, địa chỉ: 1/DC75/49 tổ B, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương do Lê Bích T3, Nguyễn Văn L1 thuê, tạm giữ: 01 (một) chai nhựa có nắp màu đỏ, bên trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống thủy tinh dạng nỏ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng (T3 và L1 khai nhận là bộ dụng cụ sử dụng ma túy).

7

Đối với Căn cước công dân tên Nguyễn Văn S1: Khoảng tháng 01/2023, L1 nhặt được căn cước công dân bản gốc, sau đó đem về dán ảnh của L1 lên ảnh của S1 rồi photo căn cước công dân tên Nguyễn Văn S1 nhưng có ảnh của Lại ra nhiều bản để sử dụng đăng ký trực tuyến mở tài khoản tại Ngân hàng A, số tài khoản 7464341. Lại sử dụng tài khoản ngân hàng này để thanh toán tiền mua ma tuý với các đối tượng khác, sau đó Lại làm mất bản gốc của Căn cước công dân tên Nguyễn Văn S1.

Kết luận giám định số: 307 ngày 13/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng, tinh thể màu nâu thu giữ của Lê Bích T3 và Nguyễn Văn L1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 1,2940 gam (M1); 0,1669 gam (M2); 0,5509 gam (M3); 2,3369 gam (M4). Tổng cộng: 4,3487 gam.

Kết luận giám định số: 307A ngày 10/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Bích T3 và Nguyễn Văn L1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 20,0845 gam (M5-1); 8,9411 gam (M5-2). Tổng cộng: 29,0256 gam.

Kết luận giám định số: 1173 ngày 04/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Xe mô tô 2 bánh nhãn hiệu: YAMAHA, số loại SIRIUS, dung tích xi lanh: 110.3 cm³, biển số: 66B1-106.90, có: Số khung RLCS5C640CY964889, số máy 5C64-964828 không đổi, không phát hiện cắt hàn, đục sửa.

Kết luận giám định số 1615 ngày 08/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

01 (một) Căn cước công dân số [...] cấp ngày 29/4/2021 tên Võ Thị Tường V, sinh năm: 2006, nơi thường trú: 1369/172, Lê Hồng P2, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương đề ngày 29/4/2021 là thật.

Phôi và phương pháp in trên các mẫu cần giám định: 01 (một) Căn cước công dân số [...] cấp ngày 04/10/2022 tên Nguyễn Thị Mỹ K, sinh ngày 04/3/1989, nơi thường trú: Ấp H, H, T, Đồng Nai và 01 (một) Căn cước công dân số [...] cấp ngày 18/8/2022 tên Nguyễn Ngọc D1, sinh ngày 29/6/1997, nơi thường trú: Thôn V, M, P, Bình Định so với phôi và phương pháp in trên mẫu so sánh là cũng một phôi và cùng phương pháp in ra. Có dấu vết dán chồng ảnh trên căn cước công dân của Nguyễn Thị Mỹ K, Nguyễn Ngọc D1.

Kết luận giám định số: 2993 ngày 04/7/2024 của Phân Viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Phục hồi, trích xuất dữ liệu, bao gồm dữ liệu là danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn văn bản (SMS), tin nhắn qua ứng dụng Zalo,... lưu trữ trong thiết bị điện tử gồm: 01 điện thoại hiệu Redmi; 01 điện thoại hiệu Nokia,

8

01 điện thoại hiệu Huawei đã được trích xuất dữ liệu, khai thác được sao lưu ra 01 (một) thiết bị lưu trữ kèm theo kết luận.

2. Hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” của Trần Văn L và Huỳnh Văn P:

Huỳnh Văn P là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2015, nguồn ma túy sử dụng do P mua của Trần Văn L. P mua ma túy đá của L nhiều lần (khoảng 05 lần), mỗi lần có giá từ 200.000 đồng trở lên, do thời gian đã lâu nên không nhớ chính xác từng lần P mua ma túy của L, chỉ nhớ lần cuối cùng vào ngày 06/6/2023, cụ thể như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/6/2023, P đang ở nhà trọ tại đường C, khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì người đàn ông tên T9, sinh sống tại nhà nghỉ P3, địa chỉ: Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương dùng zalo tên “Anh” gọi vào zalo của P tên “Huỳnh P” đăng ký số điện thoại 0385.157.xxx nhờ P mua giùm “hộp 10 ma túy đá” (khoảng 10 gam). Do P có mua ma túy của L nhiều lần nên biết giá tiền và báo giá là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho T9 biết. Sau đó, P gửi số tài khoản 0385157730 của P đăng ký tại Ngân hàng M cho T9 để chuyển tiền, một lúc sau có người dùng số tài khoản 3388192888 tại ngân hàng TMCP T12 (T13) chuyển cho P 5.500.000 đồng. P điện thoại cho T9 thông báo đã nhận được tiền, sau đó T9 nói với P số tiền 5.000.000 đồng là tiền mua ma túy còn 500.000 đồng là tiền công cho P. Sau khi nói chuyện với T9 xong, P cũng có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã điện thoại cho L để đặt mua riêng 01 gam. Tổng số ma tuý mà P mua của L là 11 gam với số tiền 6.100.000 đồng. P chuyển tiền vào số tài khoản của L và đến địa điểm đã hẹn để nhận ma túy. Sau khi mua được ma túy của L, P cất giấu trong túi quần, bên phải quần đang mặc và điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 61B1-845.71 đi giao ma túy cho T9. Khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực trước cổng số nhà A, đường H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì P bị lực lượng Công an kiểm tra, tạm giữ:

01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1);

01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2);

01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, biển số 61B1-845.71;

01 điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu gold, kèm theo sim số 0385157730.

Kết luận giám định số: 309 ngày 13/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ được của Huỳnh Văn P gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng: 1,0601 gam (M1) và 9,9873 gam (M2). Tổng cộng: 11,0474 gam.

Kết luận giám định số: 900-2 ngày 22/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Xe mô tô 2 bánh nhãn hiệu: YAMAHA, số loại SIRIUS Fi-1FC8, biển số

9

61B1-845.71, số khung RLCUE1710KY292579, số máy E3T6E-435484 không đổi, không phát hiện cắt hàn, đục sửa.

Công văn số 239/PC09-Đ3 ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B xác định: Qua kiểm tra mẫu vật gửi giám định là điện thoại hiệu OPPO, tình trạng không lên nguồn. Vì vậy, không thực hiện được trích xuất dữ liệu trong mẫu vật trên.

Vật chứng trong vụ án:

Đối với 01 (một) bì thư đã được Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong, ký hiệu 307/PC09 (M1), bên ngoài có chữ ký của Lê Bích T3, Phan Khắc H3, Cao Thị Cẩm T6, dấu mộc đỏ của Công an phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương cùng chữ ký của trung tá Huỳnh Quốc D2, bên trong đựng số ma túy đá sau giám định; 04 (bốn) bì thư đã được Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong, ký hiệu PC09 (M2), PC09 (M3), M4, 307/PC09 (M5), bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Văn L1, Lê Bích T3, Trần Minh D, Lại Thị T7, Phan Trung C, dấu mộc đỏ của Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương cùng chữ ký của thiếu tá Trần Thanh Q, bên trong đựng số ma túy đá sau giám định; 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 309/PC09 (được niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K1 Công an tỉnh B); 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “CRAVEN” màu trắng xanh; 01 (một) hộp giấy màu xanh dương; 01 (một) ví vải màu nâu có khóa kéo; 01 (một) cân điện tử in chữ Manlloro; 01 (một) cân điện tử màu đen (không có nhãn hiệu); 01 (một) cây kéo bằng kim loại; 50 (năm mươi) túi nylon miệng kéo dính không chứa gì; 01 (một) hộp nhựa màu trắng có in chữ White Dream; 01 (một) ví da màu nâu nhạt; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa, nắp nhựa màu đen đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn 01 (một) ống thủy tinh dạng nỏ; 01 (một) ví da màu đen ghi chữ ARMANI màu đen; 01 (một) Căn cước công dân số [...] cấp ngày 04/10/2022 tên Nguyễn Thị Mỹ K, sinh ngày 04/3/1989, nơi thường trú: ấp H, H, T, Đồng Nai; 01 (một) Căn cước công dân số [...] cấp ngày 18/8/2022 tên Nguyễn Ngọc D1, sinh ngày 29/6/1997, nơi thường trú: Thôn V, M, P, Bình Định; 01 (một) Căn cước công dân số [...] cấp ngày 29/4/2021 tên Võ Thị Tường V, sinh ngày 13/8/2006, nơi thường trú: 1369/172, Lê Hồng P2, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; 09 (chín) Căn cước công dân (bản phô tô) số [...] cấp ngày 28/6/2021 tên Nguyễn Văn S1, sinh ngày 19/10/1994, nơi thường trú: Bản Tông S2, Thạch N2, C, Nghệ An; 01 (một) Căn cước công dân số [...] cấp ngày 16/05/2022 mang tên Huỳnh Văn Đ, sinh ngày 11/01/2004, nơi thường trú: Ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; 01 (một) điện thoại di động Redmi màu xanh kèm sim số

10

0921.788.529; 01 (một) điện thoại NOKIA màu đen kèm sim số 0334358823 (không có nắp phía sau) của Nguyễn Văn L1; 01 (một) điện thoại HUAWEI 3I kèm sim số 0357115001 của Lê Bích T3; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F5, gắn sim số 0385157730 của Huỳnh Văn P; 01 xe mô tô hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển số: 66B1-106.90 do ông Bùi Văn G, sinh năm: 1990, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đứng tên chủ sở hữu; 01 xe mô tô YAMAHA, số loại SIRIUS Fi-1FC8, biển số 61B1-845.71 do bà Trần Thị Thu T8, địa chỉ: Số I, tổ D, khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu.

Tại Cáo trạng số: 180/CT-VKSBD-P1 ngày 26/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định: truy tố các bị cáo Trần Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c và i khoản 2 Điều 251; Nguyễn Văn L1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255; tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341; Lê Bích T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251; Huỳnh Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật, các chứng cứ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

- Xử phạt bị cáo Trần Văn L mức án từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 207/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1:

+ Mức án từ 16 (mười sáu) năm đến 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

+ Mức án từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

11

+ Mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

Tổng hợp hình phạt cho cả 03 tội là từ 23 (hai mươi ba) năm 06 (sáu) tháng đến 25 (hai mươi lăm) năm 09 (sáu) tháng.

- Xử phạt bị cáo Lê Bích T3 mức án từ 15 (mười lăm) năm đến 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An;

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P mức án từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L1 có nội dung: Thống nhất với tội danh, điều khoản mà Cáo trạng truy tố; luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo L1; thống nhất với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà viện kiểm sát đã áp dụng; tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện, cơ hội cho bị cáo sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.

Bị cáo Nguyễn Văn L1 thống nhất với phần trình bày của người bào chữa; bị cáo không tham gia tranh luận gì thêm.

Các bị cáo Nguyễn Văn L1, Lê Bích T3, Huỳnh Văn P không tham gia tranh luận.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sớm được trở về đoàn tụ với gia đình và làm lại từ đầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

12

Đối với người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L1 theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: qúa trình điều tra, truy tố, xét xử, các quan cơ tiến hành tố tụng cử luật sư chỉ định bào chữa cho bị cáo là ông Nguyễn Chánh T4 – Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, tuy nhiên tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo vắng mặt, bị cáo có ý kiến trình bày không cần sự có mặt của người bào chữa tại phiên tòa, không yêu cầu Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, bị cáo xin tự bào chữa cho bị cáo; đối với bị cáo Lê Bích T3 từ chối người bào chữa cho bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo cũng không yêu cầu phải có người bào chữa cho bị cáo; bị cáo tự tham gia tranh luận bào chữa cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử các bị cáo theo quy định tại các Điều 77, Điều 291 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu được và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trần Văn L, Nguyễn Văn L1, Lê Bích T3 và Huỳnh Văn P là các đối tượng nghiện ma tuý, không có việc làm ổn định. Trong thời gian từ tháng 5/2023 đến tháng 6/2023 L đã mua ma túy của đối tượng tên H4 (không rõ nhân thân, lai lịch) nhiều lần và chia nhỏ bán lại cho L1, T3, P với tổng khối lượng là 16,0474 gam ma tuý, cụ thể:

Ngày 05/6/2023, L bán cho L1 “50 số ma tuý đá” (khoảng 5 gam) với giá 2.800.000 đồng. Ngoài ra, trước đó L bán ma tuý cho L1, T3 khoảng 04 lần loại Methamphetamine với số tiền từ 800.000 đồng đến 1000.000 đồng.

Ngày 06/6/2023,L bán cho P 11,0474 gam ma tuý loại Methamphetamine với giá 5.000.000 đồng.

Sau khi mua ma tuý của L, Lại cất giấu tại phòng trọ số A, địa chỉ: A tổ I, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại đây, L1 và T3 có hành vi tàng trữ 33,2074 gam ma tuý loại Methamphetamine để sử dụng và chia nhỏ ma tuý bán cho các đối tượng nghiện ma túy. Khi L1 đưa cho T3 1,2940 gam ma túy, loại Methamphetamine đem đi bán cho đối tượng tên Đ với giá 300.000 đồng thì bị lực lượng Công an phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương bắt giữ. Đồng thời, tại phòng trọ số A, Lại đang tổ chức cho Trần Minh D, Đoàn Thị Quế H2 sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an thành phố T khám xét khẩn cấp thu giữ 0,1669 gam và 31,9134 gam ma tuý loại Methamphetamine. Ngoài mua bán ma túy của L, L1 còn được đối tượng tên V1 (không rõ nhân thân, lai lịch) cho ma túy để bán và sử dụng. Sau khi mua ma túy của L và nhận được ma túy của V1 cho thì L1, T3 cất giấu ma túy

13

tại phòng trọ số 01. Cách thức giao dịch mua bán ma túy là Lại dùng điện thoại Nokia gắn số 0334.358.xxx gọi điện vào số điện thoại của Lý số 0382.624.xxx đặt mua ma túy sau đó L1 dùng số dùng số tài khoản 7464341 của ngân hàng A, tên chủ tài khoản là Nguyễn Văn S1 (đây là tên giả của L1 dùng để mở tài khoản ngân hàng) chuyển tiền vào tài khoản số 0382624645 của ngân hàng M, tên chủ tài khoản là Trần Văn L. Khi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, L1 đã dán chồng ảnh của Lại lên ảnh trên Căn cước công dân tên Nguyễn Văn S1 và photo ra nhiều bản, cung cấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (A) để đăng ký trực tuyến tài khoản ngân hàng, số tài khoản 7464341. Lại sử dụng tài khoản trên để chuyển khoản mua bán ma túy nhiều lần với Trần Văn L.

Đối với Huỳnh Văn P: Sau khi mua ma túy của L, Phú cất trong túi quần sau bên phải và điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 61B1-845.71 đi về thì bị lực lượng Công an phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương kiểm tra, bắt quả tang.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Các bị cáo Trần Văn L, Lê Bích T3; nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Nguyễn Văn L1 nhận thức được hành vi mua bán; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; bị cáo Huỳnh Văn P nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Văn L1, Lê Bích T3 phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn L1, Huỳnh Văn P phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn L1, Lê Bích T3, Trần Văn L và Huỳnh Văn P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn L1 có bà nội tên Hồ Thị N3, được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Đối với Trần Minh D, Đoàn Thị Quế H2 là hai đối tượng sử dụng chung ma tuý với Lại ngày 05/6/2023. Ngày 10/6/2023, Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

[7] Đối với đối tượng tên V1: các bị cáo L1, T3 khai được đối tượng không rõ

14

nhân thân, lai lịch cho ma túy. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra xác định không có đủ căn cứ tài liệu để xác định đối tượng là ai, cư trú ở đâu nên tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.

[8] Đối với đối tượng tên Đảm: các bị cáo L1, T3 khai bán ma túy cho Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định truy tìm đối với Huỳnh Văn Đ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

[9] Đối với Nguyễn Văn S1: Qua xác minh tại bản T, xã T, huyện C, tỉnh Nghệ An có đương sự tên Nguyễn Văn S1, sinh ngày 19/10/1994; Căn cước công dân số: [...], đăng ký thường trú tại địa phương. Hiện tại Nguyễn Văn S1 không có mặt tại địa phương và ở đâu không rõ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sau.

[10] Đối với người đàn ông tên T9 có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Trần Văn L: Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được địa chỉ, nhân thân lai lịch của T9. Do đó, Cơ quan điều tra đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh xác minh và xử lý theo thẩm quyền.

[11] Đối với Hoàng Văn T9 đã gọi điện nhờ Huỳnh Văn P mua ma tuý: Quá trình điều tra xác định T9 đang chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương ở một vụ án khác. Đồng thời, T9 không thừa nhận hành vi chuyển tiền cho P ngày 06/6/2023 để nhờ P đi mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện T9 có chuyển tiền cho P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành cho Hoàng Văn T9 và Huỳnh Văn P tiến hành đối chất nhưng không chứng minh được hành vi mua bán ma túy của T9. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý đối với T9.

[12] Đối với Võ Thị Tường V: Quá trình điều tra xác định khoảng tháng 5/2022, V làm mất Căn cước công dân tại địa phận huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. V không quen biết và không liên quan đến hoạt động mua bán ma túy của Nguyễn Văn L1 và Lê Bích T3 nên không có căn cứ xử lý.

[13] Đối với Nguyễn Thị Mỹ K: Quá trình điều tra xác định đầu tháng 12/2022, K làm mất Căn cước công dân tại địa bàn phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, sau đó K đã trình báo Cơ quan Công an và làm lại Căn cước công dân. Kiều chưa cho ai mượn Căn cước công dân và cũng không quen biết với Nguyễn Văn L1, Lê Bích T3 nên không có căn cứ xử lý.

[14] Đối với Nguyễn Ngọc D1: Cơ quan điều tra đã ban hành Quyết định ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xác minh nhân thân lai lịch. Kết quả, Nguyễn Ngọc D1, sinh ngày 29/6/1997, Căn cước công dân số:

15

052197006333; đăng ký thường trú tại thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Hiện tại Nguyễn Ngọc D1 và gia đình đi đâu, làm gì không rõ, không có mặt tại địa phương nên không đủ căn cứ để xử lý là phù hợp.

[15] Về xử lý vật chứng:

[15.1] Đối với:

- 01 (một) bì thư đã được Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong, ký hiệu 307/PC09 (M1);

- 04 (bốn) bì thư đã được Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong, ký hiệu PC09 (M2);

- 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 309/PC09 (được niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K1 Công an tỉnh B);

- 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “CRAVEN” màu trắng xanh;

- 01 (một) hộp giấy màu xanh dương;

- 01 (một) ví vải màu nâu có khóa kéo;

- 01 (một) cân điện tử in chữ Manlloro;

- 01 (một) cân điện tử màu đen (không có nhãn hiệu);

- 01 (một) cây kéo bằng kim loại;

- 50 (năm mươi) túi nylon miệng kéo dính không chứa gì;

- 01 (một) hộp nhựa màu trắng có in chữ White Dream;

- 01 (một) ví da màu nâu nhạt;

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa, nắp nhựa màu đen đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn 01 (một) ống thủy tinh dạng nỏ;

- 01 (một) ví da màu đen ghi chữ ARMANI màu đen;

Các đồ vật, phương tiện, công cụ nêu trên liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tịch thu, tiêu hủy.

[15.2] Đối với:

- 01 (một) căn cước công dân số [...] cấp ngày 04/10/2022 tên Nguyễn Thị Mỹ K;

- 01 (một) căn cước công dân số [...] cấp ngày 18/8/2022 tên Nguyễn Ngọc D1;

- 01 (một) căn cước công dân số [...] cấp ngày 29/4/2021 tên Võ Thị Tường V;

- 09 (chín) căn cước công dân (bản phô tô) số [...] cấp ngày 28/6/2021 tên Nguyễn Văn S1;

16

- 01 (một) căn cước công dân số [...] cấp ngày 16/05/2022 mang tên Huỳnh Văn Đ;

Những tài liệu, vật chứng nêu trên liên quan đến hành vi phạm tội, nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

[15.3] Đối với:

- 01 (một) điện thoại di động Redmi màu xanh kèm sim số 0921.788.529;

- 01 (một) điện thoại NOKIA màu đen kèm sim số 0334358823 (không có nắp phía sau) của Nguyễn Văn L1;

- 01 (một) điện thoại HUAWEI 3I kèm sim số 0357115001 của Lê Bích T3;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F5, gắn sim số 0385157730 của Huỳnh Văn P;

Những điện thoại nêu trên là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[15.4] Đối với:

- 01 (một) xe mô tô hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển số: 66B1-106.90 do ông Bùi Văn G, đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng ông G không có mặt tại địa phương, T3 khai nhận chiếc xe trên Tiền mượn của một người em trai ngoài xã hội, không rõ nhân thân lai lịch với mục đích làm phương tiện đi lại cá nhân và phương tiện đi nhận, giao ma tuý; kết quả tra cứu thể hiện xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Ngày 09/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ban hành công văn số 1137 gửi Ban biên tập B về việc thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 66B1-106.90 trên phương tiện thông tin đại chúng 03 kỳ liên tiếp nhưng đến nay không có cá nhân nào đến liên hệ giải quyết nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;

- 01 (một) xe mô tô YAMAHA, số loại SIRIUS Fi-1FC8, biển số 61B1-845.71 do bà Trần Thị Thu T8, đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh, bà T8 không có mặt tại địa phương; kết quả tra cứu thể hiện xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Ngày 06/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương đã ban hành công văn số 1207 gửi Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh B về việc thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 61B1-845.71 trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay không có cá nhân nào đến liên hệ giải quyết nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;

[15.5] Đối với số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng mà bị cáo Trần Văn L thu lợi được từ hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” là tiền thu lợi bất chính, bị cáo đã tiêu xài cá nhân nên buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.

17

[16] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[17] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L1 là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

[18] Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn L, Lê Bích T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn P phạm tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1 Áp dụng điểm b, c và i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Văn L 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 207/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, buộc bị cáo Trần Văn L phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 10 năm 2023.

2.2 Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 341; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), buộc bị cáo Nguyễn Văn L1 phải chấp hình phạt chung cho cả 03 tội là 23 (hai mươi

18

ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 6 năm 2023.

2.3 Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, Điều 38, Điều 58; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Bích T3 15 (mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, buộc bị cáo Lê Bích T3 phải chấp hình phạt chung cho cả 02 bản án là 16 (mười sáu) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 01 năm 2024;

2.4 Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 6 năm 2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

3.1 Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bì thư niêm phong, ký hiệu 307/PC09 (M1), bên ngoài có chữ ký của Lê Bích T3, Phan Khắc H3, Cao Thị Cẩm T6, Trung tá Huỳnh Quốc D2 và dấu đỏ của Công an phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bên trong đựng số ma túy đá còn lại sau giám định, theo Kết luận giám định số 307/KL-KTHS(MT) ngày 13/6/2023 của phòng KTHS Công an tỉnh B;

+ 04 (bốn) bì thư niêm phong, ký hiệu 307/PC09(M2,M3,M4,M5), bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Văn L1, Lê Bích T3, Trần Minh D, Lại Thị T7, Phan Trung C, Thiếu tá Trần Thanh Q và dấu đỏ của Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bên trong đựng số ma túy đá còn lại sau giám định, theo Kết luận giám định số 307/KL-KTHS(MT) ngày 13/6/2023 và Kết luận giám định bổ sung số 307A/KL-KTHS(MT) ngày 10/7/2023 của phòng KTHS Công an tỉnh B;

+ 01 (một) bì thư niêm phong, ký hiệu 309/PC09, bên ngoài có chữ ký Huỳnh Văn P1, Võ Thành T10, Nguyễn Viết T11; dấu đỏ của Công an phường H, thành phố T và dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, theo Kết luận giám định số 309/KL-KTHS(MT) ngày 13/6/2024 của phòng KTHS Công an tỉnh B);

19

+ 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “CRAVEN” màu trắng xanh;

+ 01 (một) hộp giấy màu xanh dương;

+ 01 (một) ví vải màu nâu có khóa kéo;

+ 01 (một) cân điện tử in chữ Manlloro;

+ 01 (một) cân điện tử màu đen (không có nhãn hiệu);

+ 01 (một) cây kéo bằng kim loại;

+ 50 (năm mươi) túi nylon miệng kéo dính không chứa gì;

+ 01 (một) hộp nhựa màu trắng có in chữ White Dream;

+ 01 (một) ví da màu nâu nhạt;

+ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa, nắp nhựa màu đen đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn ống thủy tinh dạng nỏ;

+ 01 (một) ví da màu đen ghi chữ ARMANI màu đen;

3.2 Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động Redmi màu xanh (có gắn sim), bị bể camera sau; không mở được nguồn, không kiểm tra được số imei, không kiểm tra tình trạng hoạt động;

+ 01 (một) điện thoại N5: TA-1174 màu đen (có gắn sim), số imeil: 356819638757008, imei2: 356819639757007; bị phù pin, không có nắp phía sau, không kiểm tra tình trạng hoạt động;

+ 01 (một) điện thoại HUAWEI 3I (có gắn sim) màu xanh, bị bể mặt lưng phía dưới, số imeil: 864188040047860, imei2: 864188040065870, không kiểm tra tình trạng hoạt động;

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F5 màu vàng đồng (có gắn sim), bị tróc sơn phía sau (gần camera); không mở được nguồn, không kiểm tra được số imei, không kiểm tra tình trạng hoạt động;

+ 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS-5C64, dung tích xy lanh 110.3cm³, mang biển kiểm soát 66B1-106.90, có số khung, số máy không đổi, không phát hiện cắt hàn, đục sửa; số khung: RLSC5C640CY964 889, số máy: 5C64-964828; xe không paga, không kính chiếu hậu bên phải, gãy chốt yên, không kiểm tra tình trạng hoạt động;

+ 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS FI-1F C8, mang biển kiểm soát 61B1-845.71, có số khung, số máy không đổi, không phát hiện cắt hàn, đục sửa; số khung: RLCUE1710KY292579, số máy: E3T6E-435484, xe không kính chiếu hậu bên phải, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

20

(Vật chứng đã chuyển giao giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024).

3.3 Buộc bị cáo Trần Văn L có trách nhiệm nộp lại số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng là khoản tiền thu lợi bất chính, để sung vào ngân sách nhà nước.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Trần Văn L, Nguyễn Văn L1, Lê Bích T3 và Huỳnh Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT1);
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo (03);
  • - Người tham gia tố tụng (11);
  • - Trại Tạm giam - Công an tỉnh Bình Dương (06);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án, LNH, 45.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn L và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger