Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 47/2025/HS-ST

Ngày 10/4/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Biểu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Ngọc Khải và ông Lương Ngọc Vượng.

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 10/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2025/HSST ngày 12/03/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HS ngày 18/03/2025, đối với bị cáo:

* Lò Văn D, sinh năm 1997, tại huyện T, tỉnh Sơn La; hộ khẩu thường trú: Xã B, huyện T, tỉnh Sơn La; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Lò Văn H, sinh năm 1968, con bà Quàng Thị X, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 04 anh em bị cáo là con thứ 03; Tiền án: Ngày 19/7/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. (Chấp hành xong hình phạt ngày 06/02/2024).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. Có mặt.

* Trợ giúp viên pháp lý: Bà Đỗ Thị H1 - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.

* Người chứng kiến:

  • - Anh Phạm Văn H2, sinh năm 1988. Trú tại: thôn L, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên;
  • - Anh Đặng Văn C, sinh năm 1988. Trú tại: thôn L, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên;
  • - Anh Phạm Văn K, sinh năm 1980. Trú tại: thôn L, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; (Đều vắng mặt tại phiên tòa.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 ngày 15/12/2024, tại đường bê tông thuộc thôn L, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H phát hiện Lò Văn D, sinh năm 1997, hộ khẩu thường trú: bản N, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La; chỗ ở: thôn L, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. Vật chứng thu giữ: tại túi quần phía trước bên phải D đang mặc 05 gói giấy màu trắng có dòng kẻ ngang, bên trong đều có chứa chất cục và bột màu trắng (niêm phong ký hiệu MT1); tại túi quần phía trước bên trái 01 điện thoại di động Iphone màu vàng trắng và số tiền 450.000 đồng.

Cùng ngày khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn D, kết quả thu giữ: tại phía đầu giường ngủ 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ ngang bên trong đều chứa chất cục, bột màu trắng (niêm phong ký hiệu MT2); trên mặt giường ngủ 01 cân tiểu ly điện tử và 01 dao lam (tem).

Tại bản Kết luận giám định số 713/KL- KTHS (MT) ngày 18/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:

Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu MT1 và MT2 có khối lượng lần lượt là 0,704 gam và 0,636 gam đều là ma túy, loại Heroine (H).

Quá trình điều tra Lò Văn D khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 13/12/2024, D đến khu vực thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên mua 01 gói ma tuý loại Heroine của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 2.000.000 đồng, D mang về phòng trọ chia ra được 12 gói nhỏ, D sử dụng hết 02 gói, bán 03 gói cho đối tượng không rõ tên tuổi, địa chỉ được 600.000 đồng. Khoảng 13 giờ ngày 15/12/2024, D mang 05 gói ma tuý ra khu vực đường bê tông thuộc thôn L, xã N, huyện Y mục đích bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang. Đối với 02 gói ma túy thu giữ tại chỗ ở Diện tàng trữ mục đích để bán kiếm lời.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho D và đối tượng mua 03 gói ma túy của D, do không biết rõ tên, tuổi địa chỉ nên không đủ thông tin xác minh xử lý. Tại Cơ quan điều tra Lò Văn D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. (Các vật chứng và đồ vật thu giữ gồm: 01 niêm phong số 713/KL- KTHS (MT) mẫu hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại Iphone màu vàng trắng; 01 cân tiểu ly điện tử và 01 dao lam (tem) được quản lý tại kho vật chứng Công an tỉnh H.

Đối với số tiền 450.000 đồng đang gửi tại tài khoản tạm giữ của Công an tỉnh mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C1 chi nhánh H3.

Cáo trạng số 45/CT-VKS-P1 ngày 12/03/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Lò Văn D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lò Văn D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn D từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo sau khi phân tích đánh giá điều kiện hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa; không bổ sung luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như: Lời khai của người chứng kiến; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản kết luận giám định số: 713/KL-KTHS(MT) ngày 18/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 15/12/2024, tại thôn L, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Lò Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 1,34 gam ma túy loại Heroine nhằm bán cho người khác để kiếm lời thì bị bắt quả tang.

Bị cáo Lò Văn D là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự. Với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để bán là 1,34 gam Heroine. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Lò Văn D về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện. Bị cáo là người nghiện chất ma túy biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy cũng như hậu quả và hệ lụy do ma túy để lại đối với trí lực, sức khỏe, kinh tế của bản thân người nghiện, gia đình và xã hội. Mặt khác, từ việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội và sự bất bình trong dư luận nhân dân tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, xử phạt bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra, để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng chống tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm”quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  • - Đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội.

[5]. Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích.

* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • - 01 phong bì hoàn mẫu vật sau giám định số 713/KL-KTHS (MT) bên trong chứa tổng khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định; 01 cân tiểu ly và 01 dao lam là vật chứng trong vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng trắng kèm sim liên lạc (mặt sau điện thoại bị vỡ) thu giữ của bị cáo là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo là số tiền trong khoản tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) bị cáo khai do bị cáo bán ma túy mà có nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước. Số tiền bán ma túy còn lại 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết nên sẽ truy thu, sung ngân sách Nhà nước.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh và hình phạt:

  • - Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • - Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Xử phạt: Bị cáo Lò Văn D 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.

[2]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì hoàn mẫu vật sau giám định số 713/KL-KTHS (MT) bên trong chứa tổng khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định; 01 cân tiểu ly và 01 dao lam.
  • - Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng trắng kèm sim liên lạc (mặt sau điện thoại bị vỡ).
  • - Tịch thu, sung ngân sách Nhà Nước của bị cáo số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
  • - Truy thu của bị cáo số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) sung ngân sách Nhà nước.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/3/2024 giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Công an tỉnh H).

[3]. Án phí: Bị cáo Lò Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Biểu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn D - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger