|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2025/HS-ST Ngày 09-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Bẩy;
Ông Ninh Văn Trung.
Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Duy Tùng - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trung Kiên, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S
sinh năm 1991, Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 08/12; Con ông: Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị N: Vợ, con chưa có; Nhân thân: Ngày 28/12/2007 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang ra quyết định số 3428 đưa Nguyễn Văn S vào Trường G, thời hạn 24 tháng. Ngày 01/9/2009 S chấp hành xong. Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án.
Tại Bản án số 210/2011/HSPT ngày 18/11/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn S 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2011, phạt bổ sung 5.000.000đ, buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại và phải chịu án phí dân sự, hình sự. Ngày 06/11/2012, S chấp hành xong hình phạt tù, tuy nhiên S chưa chấp hành nộp tiền án phí hình sự, dân sự; chưa nộp phạt bổ sung và chưa bồi thường cho người bị hại. Tính đến thời điểm phạm tội này S chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2025, hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh B “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo: Trợ giúp viên pháp lý: Ông Nguyễn Văn P – TGVPL của Trung tâm T3 “có mặt”.
Bị hại:
Ông Khổng Minh L, sinh năm 1975 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Thân Văn T, sinh năm 1992 “vắng mặt”.
Địa chỉ: TDP M, phường C, tỉnh Bắc Ninh.
Anh Lý Ngọc M, sinh năm 1987 “vắng mặt”.
Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1986 “vắng mặt”.
Cùng địa chỉ: TDP S, phường C, tỉnh Bắc Ninh.
Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn P, K, Bắc Ninh.
Người làm chứng:
Anh Thân Văn H, sinh năm 1962 “vắng mặt”.
Địa chỉ: TDP M, phường C, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 06/4/2024, Nguyễn Văn S đang ở nhà thì có Thân Văn T, sinh năm 1992, trú tại: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố M, phường C, tỉnh Bắc Ninh) đến chơi. Quá trình ngồi chơi, nói chuyện, S và T rủ nhau đến nhà ông Khổng Minh L, sinh năm 1975, trú tại: thôn V, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nay là thôn V, xã Đ, thành phố Hà Nội), hiện đang sinh sống tại: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh) để nhổ trộm cây hoa mẫu đơn ông L trồng ở vườn nhà thuộc Tổ dân phố S, phường C, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó, S nhờ anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1986 (là anh trai ruột của S) chở T và S đi có việc, anh V đồng ý và đã mượn chiếc xe mô tô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 98E1-496.49 của anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988, trú tại: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn P, xã K, tỉnh Bắc Ninh) chở T và S đi đến khu vực đường bê tông cách nhà ông L khoảng 200m thì T và S xuống xe, còn anh V điều khiển xe mô tô đi về nhà. S và T đi bộ vào trong vườn nhà ông L, cả hai cùng nhổ trộm được 13 (mười ba) cây hoa mẫu đơn màu đỏ, loại một thân, có chiều cao từ 110-128cm, rồi bó số cây hoa mẫu đơn trên thành hai bó mang ra để ở khu vực đường bê tông. Sau đó,
S gọi điện thoại cho anh V nhờ anh V đi xe mô tô đến đón, anh V điều khiển xe mô tô đến đón, chở T ngồi phía sau ôm hai bó cây hoa mẫu đơn đi đến nhà anh Lý Ngọc M, sinh năm 1987, trú tại: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP S, phường C, tỉnh Bắc Ninh), còn S đi bộ theo sau. Khi đến nhà anh M thì anh V điều khiển xe mô tô đi về nhà, còn T ôm hai bó cây hoa mẫu đơn mang vào trong nhà anh M, gạ bán cho anh M nhưng anh M không mua. T gửi 13 cây mẫu đơn ở nhà anh M và vay của anh M 80.000 đồng để đi mua đồ ăn. Khoảng 30 phút sau, S và T gặp nhau và cùng đi bộ đến nhà anh M để mang 13 cây hoa mẫu đơn về. Lúc này anh M hỏi xin một cây hoa mẫu đơn để trồng nên S đã cho anh M 01 cây hoa mẫu đơn. Còn 12 cây hoa mẫu đơn S và T mang về nhà S, tại đây S đã đưa cho T 07 cây, T mang về trồng ở trong vườn nhà, còn 05 cây hoa mẫu đơn S để ở phía sau nhà. Đến buổi chiều ngày 07/4/2024, S mang 05 cây hoa mẫu đơn trộm cắp được đến bán cho anh Lý Ngọc M với giá 50.000đ/cây, anh M trả cho S tổng số tiền 250.000 đồng. Ngày 08/04/2024, ông Khổng Minh L làm đơn trình báo đến cơ quan Công an về việc bị mất 15 cây hoa mẫu đơn.
Ngày 08/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L (nay là Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B) đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ trộm cắp, đồng thời tiến hành rà soát thu giữ 02 đoạn video có liên quan đến vụ án tại camera của gia đình anh Leo Văn C, sinh năm 1992 ở Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP S, phường C, tỉnh Bắc Ninh) và 01 đoạn video từ camera gia đình chị Vũ Thị H1, sinh năm 1984 ở Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP B, phường C, tỉnh Bắc Ninh).
Ngày 08/4/2024, ông Thân Văn H, sinh năm 1962, trú tại TDP M, phường C, tỉnh Bắc Ninh (là bố đẻ của Thân Văn T) đã giao nộp 07 cây hoa mẫu đơn do T mang về trồng tại vườn nhà; anh Lý Ngọc M giao nộp 05 cây hoa mẫu đơn đã mua của S; ngày 10/4/2024, anh M giao nộp thêm 01 cây hoa mẫu đơn do S cho vào tối ngày 06/4/2024. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra, xác định 13 cây hoa mẫu đơn đỏ, loại cây một thân, có số đo chiều cao cây, chu vi gốc cây và đường kính tán cây lần lượt như sau: Cây số 01: (115; 09; 60)cm; Cây số 02: (120; 09; 60)cm; Cây số 03: (124; 09; 50)cm; Cây số 04: (110; 09; 90)cm; Cây số 05: (128; 09; 70)cm; Cây số 06: (125; 10; 70) cm; Cây số 07: (120; 09; 70) cm; Cây số 08: (120; 09; 55)cm; Cây số 09: (125; 09; 70) cm; Cây số 10: (110; 08; 55)cm; Cây số 11: (110; 09; 70)cm; Cây số 12: (110; 09; 80)cm; Cây số 13: (115; 09; 70) cm.
Ngày 09/4/2024 và ngày 04/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với số cây hoa mẫu đơn bị trộm cắp nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGT ngày 09/4/2024 và số
41/ KL-HĐĐGT ngày 04/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 12 (mười hai) cây hoa mẫu đơn đỏ, loại cây một thân, có số đo chiều cao cây, chu vi gốc cây và đường kính tán cây lần lượt như sau: Cây số 01: (115; 09; 60)cm; Cây số 02: (120; 09; 60)cm; Cây số 03: (124; 09; 50)cm; Cây số 04: (110; 09; 90)cm; Cây số 05: (128; 09; 70)cm; Cây số 06: (125; 10; 70)cm; Cây số 07: (120; 09; 70)cm; Cây số 08: (120; 09; 55)cm; Cây số 09: (125; 09; 70)cm; Cây số 10: (110; 08; 55)cm; Cây số 11: (110; 09; 70)cm; Cây số 12: (110; 09; 80)cm, có tổng giá trị 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng); 01 (một) cây hoa mẫu đơn đỏ, loại cây một thân có số đo chiều cao cây, chu vi gốc cây và đường kính tán cây lần lượt là (115, 09, 70) cm, có giá trị 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
Ngày 09/4/2024, Thân Văn T đã đến Công an huyện L đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Ngày 10/5/2024, Cơ quan điều tra cho Thân Văn T xem hình ảnh video trích xuất từ camera thu giữ của nhà chị Vũ Thị H1 và nhà anh Leo Văn C, T xác định: Tại video thu giữ của nhà chị H1: Thời gian 20 giờ 08 phút 43 giây xuất hiện có một chiếc xe mô tô di chuyển qua đó là anh V đang điều khiển xe mô tô chở T ngồi sau ôm hai bó cây hoa mẫu đơn, lúc này anh V và T đang vận chuyển cây đi ra sau khi đã trộm cắp xong. Thời gian 20 giờ 09 phút 44 giây có Nguyễn Văn S đang đi bộ ra về sau khi trộm cắp xong. Tại video thu giữ của nhà anh Leo Văn C có 01 đoạn video hiển thị thời gian từ 20 giờ 15 phút 15 giây đến 20 giờ 15 phút 29 giây ngày 06/4/2024 đều có hình ảnh tương tự như hình ảnh video thu giữ của nhà chị H1.
Đối với Nguyễn Văn S, sau khi phạm tội đã bỏ trốn. Ngày 05/7/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi phạm tội của S và ra Quyết định truy nã đối với S. Ngày 19/8/2025 S bị bắt theo quyết định truy nã. Tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, S đã khai nhận hành vi trộm cắp 13 cây hoa mẫu đơn cùng với Thân Văn T.
Đối với hành vi phạm tội của Thân Văn T đã bị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử tại Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 13/8/2024.
Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Bị cáo không ý kiến gì với nội dụng bản cáo trạng cũng như bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của bị hại vắng mặt tại phiên tòa trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của bị hại vắng mặt.
Bản cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 53; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/8/2025. Ngoài ra còn đề xuất về án phí, quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa đương sự vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai tại phiên toà. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[2] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày ngày 06/4/2024, tại vườn của gia đình ông Khổng Minh L ở Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP S, phường C, tỉnh Bắc Ninh), Nguyễn Văn S đã có hành vi trộm cắp 13 cây hoa mẫu đơn đỏ, loại cây một thân, chiều cao từ 110-128cm, có tổng trị giá 6.500.000 đồng. Sau khi phạm tội S bỏ trốn, ngày 19/8/2025 S bị bắt theo quyết định truy nã. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi cố ý; Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị T2 án xét xử hình sự chưa được xóa án tích mà lại phạm tội tiếp nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Bị cáo có nhân thân từng bị đưa vào cơ sở giáo dưỡng, có tiền án; Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nên khi lượng hình cần giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước ta. Xét mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Về hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về vật chứng vụ án: Đã xử lý trong vụ án trước nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Các vấn đề khác:
Quá trình điều tra ông Khổng Minh L trình bày bị mất tổng cộng 15 cây hoa mẫu đơn, tuy nhiên quá trình điều tra S và T khai chỉ trộm cắp được 13 cây hoa mẫu đơn, hiện nay ngoài lời khai của ông L không còn căn cứ nào khác xác định T trộm cắp 02 cây hoa mẫu đơn còn lại, do đó không có căn cứ để xử lý đối với T, S về hành vi trộm cắp 02 cây hoa mẫu đơn này. Ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định truy tìm 02 cây hoa mẫu đơn nêu trên nhưng đến nay chưa tìm thấy.
Đối với anh Nguyễn Văn V là người đã chở T và S đến địa điểm trộm cắp và chở T cùng 02 bó cây hoa mẫu đơn về nhà anh Lý Ngọc M; anh Nguyễn Văn T1 là người cho anh V và S mượn xe mô tô để chở số cây hoa mẫu đơn trên; anh Lý Ngọc M là người đã cho S, T gửi số cây hoa mẫu đơn, được được S cho 01 cây hoa mẫu đơn và mua 05 cây hoa mẫu đơn của S; ông Thân Văn H là người giao nộp 07 cây hoa mẫu đơn do T mang về trồng, quá trình điều tra xác định khi được S nhờ chở và đón T, S cùng số cây hoa mẫu đơn trên anh V không biết là tài sản do phạm tội mà có; anh T1 không biết việc S mượn xe mô tô sử dụng làm phương tiện phạm tội; anh Lý Ngọc M không biết số cây hoa mẫu đơn S, T gửi và số cây hoa mẫu đơn được S cho và mua của S là tài sản do phạm tội mà có; ông Thân Văn H không biết 07 cây hoa mẫu đơn T mang về nhà trồng là do phạm tội mà có, khi biết ông H đã giao nộp, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Nguyễn Văn V, Lý Ngọc M, Nguyễn Văn T1 và ông Thân Văn H là có căn cứ.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo do thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo, bị hại, các đương sự khác có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173;
2. điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 53; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/8/2025.
2. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn S.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.
Án xử công khai sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Linh |
Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 47/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
